hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Nghị quyết 72-NQ/TW vừa được ban hành đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong tiến trình đổi mới tư duy và định hình chính sách y tế tại Việt Nam. Lần đầu tiên, khu vực y tế tư nhân được khẳng định là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống y tế quốc gia, mở ra một không gian phát triển mới với nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức.&n
Nhân dịp này, Tạp chí Doanh nghiệp & Đầu tư đã có cuộc trao đổi với GS. Viện sĩ Danh dự Nguyễn Văn Đệ – Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTW MTTQ Việt Nam, Thành viên Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hiệp hội Bệnh viện tư nhân Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty CP Hợp Lực – để lắng nghe những chia sẻ của ông về cơ hội, thách thức và triển vọng mà Nghị quyết mang lại.
PV: Thưa ông, sau hơn hai thập kỷ gắn bó với lĩnh vực y tế tư nhân, khi nhìn lại chặng đường đã qua, đâu là điều khiến ông tâm đắc nhất và đâu là những vấn đề ông cho rằng vẫn cần tiếp tục nỗ lực thay đổi?
Ông Nguyễn Văn Đệ: Nhìn lại chặng đường đã qua, điều khiến tôi tâm đắc nhất là sau hơn 20 năm, y tế tư nhân Việt Nam đã khẳng định được vai trò không thể thay thế. Nếu như trước đây, y tế tư nhân chỉ được coi là “bổ trợ” cho y tế công, thì nay đã thực sự chia sẻ gánh nặng với Nhà nước, góp phần giảm tải bệnh viện tuyến trên, đồng thời nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Tôi vẫn nhớ những ngày đầu thành lập bệnh viện tư, nhiều người hoài nghi, thậm chí cho rằng chúng tôi chỉ chạy theo lợi nhuận. Nhưng thực tế chứng minh điều ngược lại khi hệ thống bệnh viện tư đã tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, mang đến dịch vụ y tế đa dạng, ứng dụng công nghệ điều trị tiên tiến và quan trọng hơn cả là đem đến cho người dân thêm sự lựa chọn.
Tuy nhiên, điều tôi còn trăn trở nhất chính là cơ chế, chính sách chưa thực sự đồng bộ. Trong nhiều năm qua, các doanh nghiệp y tế tư nhân vẫn phải đối mặt với hàng loạt rào cản như thủ tục hành chính phức tạp, khó khăn về đất đai, tín dụng, nhân lực… và đặc biệt là chưa được tiếp cận bình đẳng với nguồn bảo hiểm y tế. Những vướng mắc này đã và đang làm cho khu vực y tế tư nhân chưa thể phát huy hết tiềm năng, chưa được đóng góp tương xứng với vai trò mà xã hội kỳ vọng.
PV: Nghị quyết 72-NQ/TW được coi là một bước ngoặt trong tiến trình đổi mới hệ thống y tế của nước ta. Thưa ông, theo quan sát và trải nghiệm thực tiễn của mình, đâu là những điểm đột phá quan trọng nhất mà Nghị quyết này mang lại, và những đột phá đó có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển của lĩnh vực y tế tư nhân nói riêng cũng như toàn ngành y tế nói chung?
Ông Nguyễn Văn Đệ: Đột phá lớn nhất, theo tôi, chính là sự thay đổi về tư duy. Lần đầu tiên, Đảng đã khẳng định một cách rõ ràng rằng y tế tư nhân là một bộ phận quan trọng trong hệ thống y tế quốc gia. Đây không chỉ đơn thuần là một tuyên bố mang tính khích lệ, mà còn là sự ghi nhận mang ý nghĩa chiến lược, tạo nền tảng để khu vực y tế tư nhân được nhìn nhận đúng vị trí và có cơ hội đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển chung.
Nghị quyết 72 cũng chỉ ra những giải pháp then chốt để tháo gỡ điểm nghẽn lâu nay như: khuyến khích mô hình hợp tác công - tư; ưu tiên quỹ đất và nguồn lực tài chính cho bệnh viện tư nhân; bảo đảm cơ chế bình đẳng trong khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế; thúc đẩy chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ hiện đại để cả y tế công và tư cùng phát triển.
Chỉ khi có một cơ chế công bằng, minh bạch thì y tế tư nhân mới có thể phát huy trọn vẹn sức mạnh. Tôi coi đây là “cơ hội vàng” để y tế tư nhân không chỉ tồn tại mà còn bứt phá mạnh mẽ hơn nữa.
PV: Thưa ông, ông nhiều lần nhấn mạnh rằng Nghị quyết 72 đã mở ra một ‘cơ hội vàng’ cho y tế tư nhân. Xin ông cho biết vì sao ông lại gọi đó là cơ hội vàng, và cơ hội này có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển của khu vực y tế tư nhân trong thời gian tới?
Ông Nguyễn Văn Đệ: Bởi lẽ trong suốt hơn 20 năm qua, chưa từng có một văn bản nào của Đảng và Nhà nước đặt y tế tư nhân vào vị thế quan trọng như Nghị quyết 72. Đây chính là sự khẳng định và cũng là sự trả lời cho những kiến nghị, mong muốn của chúng tôi về sự bình đẳng giữa y tế công và tư đã được nêu ra từ rất lâu. Sự ghi nhận này không chỉ mang tính khích lệ, mà còn tạo ra một khung khổ chính trị - pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Tôi gọi đó là ‘cơ hội vàng’ bởi nó thể hiện trên ít nhất ba khía cạnh:
Về chính sách: Y tế tư nhân lần đầu tiên được xác định là một đối tác chiến lược trong hệ thống y tế quốc gia. Điều này đồng nghĩa với việc khu vực tư nhân không chỉ tham gia bổ sung, hỗ trợ, mà còn có vai trò đồng hành và chia sẻ trách nhiệm trong việc chăm sóc sức khỏe nhân dân. Từ đây, y tế tư nhân sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển quy mô lớn, chuyên sâu, và tham gia một cách toàn diện vào mạng lưới dịch vụ y tế.
Về đầu tư: Khi nhận thức xã hội thay đổi, sẽ có thêm nhiều nhà đầu tư, cả trong và ngoài nước, nhìn thấy tiềm năng cũng như sự ổn định chính sách để yên tâm rót vốn vào lĩnh vực này. Đầu tư mạnh mẽ hơn sẽ giúp hệ thống bệnh viện tư nhân có cơ hội hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, mở rộng dịch vụ, nâng cao chất lượng, và cạnh tranh công bằng với y tế công.
Về xã hội: Người dân sẽ có cái nhìn khách quan và tin tưởng hơn vào dịch vụ y tế tư nhân. Niềm tin của công chúng chính là nền tảng cho sự phát triển bền vững. Khi niềm tin được củng cố, thị trường dịch vụ y tế tư nhân sẽ mở rộng một cách tự nhiên, tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh, qua đó cả người bệnh và toàn hệ thống đều được hưởng lợi.
Tuy nhiên, tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, cơ hội chỉ thực sự trở thành hiện thực khi những chủ trương đúng đắn này được cụ thể hóa thành chính sách rõ ràng, đồng bộ và minh bạch. Chỉ khi cơ chế vận hành minh bạch, công bằng và ổn định thì y tế tư nhân mới có thể phát huy hết tiềm năng, trở thành một trụ cột quan trọng song hành cùng y tế công trong việc chăm sóc sức khỏe cho toàn dân.
PV: Thưa ông, vẫn còn ý kiến cho rằng khu vực y tế tư nhân hiện nay chủ yếu phát triển ở các đô thị lớn, tập trung phục vụ phân khúc dịch vụ chất lượng cao, trong khi chưa thực sự quan tâm đúng mức đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân có thu nhập thấp. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?
Ông Nguyễn Văn Đệ: Tôi cho rằng đó là một cách nhìn nhận còn phiến diện. Đúng là trong giai đoạn đầu, nhiều bệnh viện tư nhân tập trung phát triển tại các thành phố lớn, nơi có nhu cầu khám chữa bệnh cao và khả năng chi trả tốt, qua đó giúp các cơ sở y tế tư nhân có điều kiện tích lũy nguồn lực và khẳng định uy tín. Tuy nhiên, nếu nhìn vào thực tế hiện nay, có thể thấy bức tranh đã khác: nhiều bệnh viện, phòng khám tư đã và đang mở rộng hoạt động về các tỉnh, thậm chí về tận khu vực nông thôn, nhằm phục vụ đông đảo người dân ở nhiều tầng lớp khác nhau.
Điều này cho thấy y tế tư nhân không chỉ hướng đến phân khúc cao cấp, mà đang từng bước khẳng định vai trò đồng hành cùng hệ thống y tế công trong việc chăm sóc sức khỏe toàn dân. Khi môi trường chính sách ngày càng minh bạch, công bằng, tôi tin rằng y tế tư nhân sẽ tiếp tục mở rộng mạng lưới dịch vụ, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân ở mọi vùng miền, chứ không bó hẹp trong phạm vi đô thị hay nhóm khách hàng có thu nhập cao.
Quan trọng hơn, khi được tham gia bình đẳng vào hệ thống bảo hiểm y tế, bệnh viện tư nhân sẽ phục vụ được mọi đối tượng, kể cả người nghèo. Tôi luôn khẳng định: “Chúng tôi không chỉ chăm lo cho người có điều kiện, mà luôn hướng đến lợi ích cộng đồng”.
Minh chứng rõ ràng là trong đại dịch Covid-19, nhiều bệnh viện tư đã xung phong tham gia điều trị, cùng chia sẻ khó khăn với y tế công, không tính toán thiệt hơn. Điều đó cho thấy trách nhiệm xã hội luôn song hành cùng mục tiêu phát triển.
PV: Thưa ông, dưới góc nhìn của một người gắn bó lâu năm với lĩnh vực y tế tư nhân, ông đánh giá như thế nào về vai trò và những đóng góp của y tế tư nhân đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước?
Ông Nguyễn Văn Đệ: Y tế tư nhân, theo tôi, có những đóng góp hết sức thiết thực và đa chiều đối với sự phát triển kinh tế – xã hội. Trước hết, đó là vai trò tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động, từ đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên cho đến nhân viên hỗ trợ. Điều này không chỉ mang lại thu nhập ổn định cho nhiều gia đình, mà còn góp phần giảm áp lực việc làm cho xã hội.
Thứ hai, khu vực y tế tư nhân là nguồn lực quan trọng trong việc bổ sung ngân sách nhà nước thông qua thuế, đồng thời trực tiếp đầu tư vào hạ tầng hiện đại. Không ít bệnh viện tư nhân đã mạnh dạn ứng dụng các công nghệ tiên tiến, nhập khẩu trang thiết bị đồng bộ, và từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ. Cùng với đó, nhiều cơ sở còn chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao kỹ thuật, tạo môi trường làm việc năng động để nâng tầm chất lượng của đội ngũ y tế.
Thứ ba, sự tồn tại của y tế tư nhân giúp hình thành một cơ chế cạnh tranh lành mạnh với khu vực công lập. Chính sự cạnh tranh này đã buộc cả hai phía phải đổi mới, nâng cao chất lượng dịch vụ, lấy người bệnh làm trung tâm. Và cuối cùng, người dân chính là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất, khi có thêm sự lựa chọn về dịch vụ chăm sóc sức khỏe với mức độ đa dạng và chất lượng cao hơn.
Xa hơn, tôi cho rằng y tế tư nhân không chỉ là một ngành dịch vụ thuần túy, mà còn là một động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở cả tầm địa phương lẫn quốc gia. Sự phát triển của hệ thống y tế tư nhân sẽ kéo theo sự phát triển của nhiều ngành khác như dược phẩm, thiết bị y tế, bảo hiểm, đào tạo… Tất cả cùng tạo thành một hệ sinh thái có tác động lan tỏa, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và khẳng định năng lực cạnh tranh của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
PV: Theo ông, hiện nay y tế tư nhân đang phải đối mặt với những thách thức nào trên con đường trở thành một bộ phận quan trọng của hệ thống y tế quốc gia?
Ông Nguyễn Văn Đệ: Tôi thấy có ba thách thức lớn:
Thể chế, chính sách: Nghị quyết đã ban hành, nhưng vấn đề là các bộ, ngành, địa phương có thực hiện nghiêm túc, đồng bộ hay không. Nếu vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” thì cơ hội sẽ trôi qua.
Nguồn nhân lực: Các bệnh viện tư nhân đang gặp khó trong việc thu hút và giữ chân bác sĩ giỏi. Chính sách cần bảo đảm sự công bằng trong đào tạo, luân chuyển và sử dụng nhân lực y tế.
Niềm tin xã hội: Mặc dù đã thay đổi nhiều, nhưng vẫn còn định kiến nhất định đối với y tế tư nhân. Chúng tôi cần thêm thời gian, chất lượng dịch vụ và sự minh bạch để xây dựng niềm tin bền vững.
PV: Thưa ông, nếu nhìn về chặng đường 5–10 năm tới, ông kỳ vọng điều gì cho sự phát triển của y tế tư nhân nói riêng và hệ thống y tế quốc gia nói chung?
Ông Nguyễn Văn Đệ: Tôi kỳ vọng trong vòng một thập kỷ, y tế tư nhân sẽ chiếm 40–50% tổng nguồn lực khám chữa bệnh của cả nước. Khi đó, hệ thống y tế Việt Nam sẽ phát triển cân bằng, với hai trụ cột vững chắc: công lập và tư nhân.
Tôi tin rằng chúng ta sẽ có những bệnh viện tư đạt chuẩn quốc tế, đủ năng lực giữ chân người bệnh trong nước, hạn chế tình trạng ra nước ngoài chữa bệnh, tiết kiệm hàng tỷ USD mỗi năm. Dịch vụ y tế chất lượng cao cũng sẽ không còn tập trung ở đô thị lớn, mà lan tỏa về các tỉnh, thậm chí vùng sâu vùng xa.
Đó là viễn cảnh tôi tin tưởng, và Nghị quyết 72 chính là cú hích để hiện thực hóa tầm nhìn này.
PV: Thưa ông, dưới góc nhìn cá nhân, điều gì đã trở thành động lực thôi thúc ông kiên định gắn bó với lĩnh vực y tế tư nhân trong suốt hơn hai thập kỷ qua?
Ông Nguyễn Văn Đệ: Tôi vốn là một doanh nhân, nhưng khi bước vào lĩnh vực y tế, tôi xác định đây không chỉ là kinh doanh, mà là một sự nghiệp nhân văn.
Đầu tư vào bệnh viện, tôi hiểu hiệu quả kinh tế không đến ngay lập tức, thậm chí có thể chậm hơn nhiều lĩnh vực khác. Nhưng đổi lại, tôi cảm nhận được ý nghĩa to lớn khi góp phần chăm sóc sức khỏe nhân dân; tôi thấy tự hào khi chứng kiến đội ngũ y, bác sĩ trưởng thành và bệnh nhân được cứu chữa kịp thời.
Đó chính là động lực thôi thúc tôi kiên định suốt hai thập kỷ qua, và cũng là lý do tôi luôn mạnh mẽ kiến nghị, vì tôi tin rằng y tế tư nhân có thể làm được nhiều hơn thế.