hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Chính phủ đang rà soát, tháo gỡ khó khăn cho hàng loạt dự án tồn đọng kéo dài không chỉ mang ý nghĩa giải phóng nguồn lực mà còn thể hiện quyết tâm kiến tạo phát triển bền vững, đồng thời khẳng định vai trò điều hành nhất quán, linh hoạt và thận trọng của Nhà nước trong việc biến những nguồn lực tiềm ẩn thành động
Giải phóng nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng và củng cố niềm tin
Chủ trương tập trung tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng được xác định là một định hướng lớn, có tính chiến lược của Đảng và Nhà nước, bởi lẽ hàng loạt dự án với tổng vốn đầu tư lớn trong nhiều năm qua bị vướng mắc về thủ tục pháp lý, đất đai, đấu thầu, hay cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý đã tạo ra tình trạng lãng phí nguồn lực nghiêm trọng. Việc Ban Chỉ đạo 751, dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình, quyết liệt rà soát và đề xuất giải pháp tháo gỡ, trên cơ sở bám sát chỉ đạo của Bộ Chính trị, thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ cũng như sự đồng thuận cao trong hệ thống chính trị để khơi thông những điểm nghẽn lâu nay, đưa nguồn lực trở lại phục vụ cho nền kinh tế.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến nay, Chính phủ đã xử lý tháo gỡ khó khăn cho hơn 1.150 dự án, với tổng vốn đăng ký đầu tư lên tới khoảng 675 nghìn tỷ đồng cùng hàng trăm nghìn héc-ta đất bị “đóng băng” trong nhiều năm nay. Việc khơi thông các dự án này không chỉ đồng nghĩa với việc hàng trăm nghìn tỷ đồng vốn đầu tư sẽ được quay trở lại thị trường, mà còn góp phần kích hoạt các chuỗi cung ứng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giảm áp lực nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, đồng thời mở rộng cơ hội cho hàng trăm nghìn lao động có việc làm ổn định. Đây chính là một trong những động lực quan trọng để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, thậm chí là tăng trưởng hai con số như kỳ vọng đã được đặt ra trong các nghị quyết phát triển kinh tế – xã hội.
Cùng với việc giải phóng nguồn lực, một kết quả quan trọng khác là khắc phục tình trạng lãng phí tài sản công, mà điển hình là việc tháo gỡ vướng mắc cho các dự án y tế trọng điểm như Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 và Bệnh viện Việt Đức cơ sở 2, vốn “đắp chiếu” suốt cả thập kỷ, nay đã được đưa trở lại sử dụng, góp phần minh chứng cho hiệu quả của việc xử lý dứt điểm các điểm nghẽn. Sự vào cuộc quyết liệt cũng giúp Chính phủ nhận diện rõ những bất cập về cơ chế, chính sách, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, đấu thầu, đầu tư công, qua đó tạo tiền đề để tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch và khả thi hơn trong thực tiễn triển khai.
Định hướng dài hạn và triển vọng mở rộng cơ chế
Điểm nổi bật trong tiến trình tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng chính là cách làm thận trọng, khoa học, có tham vấn đầy đủ các cơ quan, tổ chức và lắng nghe ý kiến cộng đồng doanh nghiệp cũng như kiến nghị của người dân. Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình khẳng định, với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, trao đổi nhiều chiều và sự thống nhất cao, báo cáo trình Bộ Chính trị sẽ phản ánh đúng thực tiễn, vừa bảo đảm yêu cầu thúc đẩy phát triển, vừa giữ vững nguyên tắc xử lý nghiêm các sai phạm, không để xảy ra tình trạng hợp pháp hóa sai trái.
Kinh nghiệm thực tiễn từ Kết luận 77-KL/TW và Nghị quyết 170/2024/QH15 cho thấy, việc thí điểm cơ chế đặc thù tại một số địa phương đã đem lại kết quả tích cực, từ đó mở ra khả năng mở rộng áp dụng trên phạm vi toàn quốc. Chính phủ khẳng định sự thận trọng là cần thiết, bởi mỗi dự án tồn đọng đều gắn liền với nhiều mối quan hệ kinh tế – xã hội phức tạp, đòi hỏi giải pháp phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, kết quả thí điểm cũng cho thấy nếu có quyết tâm chính trị cao, sự phối hợp đồng bộ và khung pháp lý rõ ràng, thì việc khơi thông hàng loạt dự án sẽ là khả thi và mang lại tác động tích cực lâu dài cho nền kinh tế.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, việc đưa hàng triệu tỷ đồng vốn “nằm im” trở lại vận hành trong nền kinh tế Việt Nam không chỉ có ý nghĩa hỗ trợ ngắn hạn, mà còn tạo động lực mạnh mẽ để tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và thu hút thêm các dòng vốn mới, cả trong và ngoài nước.
Nhìn từ góc độ doanh nghiệp, việc tháo gỡ khó khăn cho các dự án không chỉ giúp giải phóng dòng vốn đầu tư đã bỏ ra mà còn tạo điều kiện tái cấu trúc sản xuất, mở rộng cơ hội hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước. Đồng thời, điều này cũng giúp hệ thống ngân hàng giảm thiểu rủi ro nợ xấu, tăng khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế, góp phần ổn định tài chính vĩ mô và duy trì đà phục hồi sau những biến động bất lợi.
Trong dài hạn, chủ trương này còn mang hàm ý quan trọng về cải cách thể chế. Bởi lẽ, khi những bất cập trong các quy định được nhận diện và khắc phục, hệ thống pháp luật sẽ ngày càng minh bạch, rõ ràng hơn, hạn chế tình trạng chồng chéo, tạo sự thuận lợi cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Đây chính là nền tảng để bảo đảm tính bền vững của tăng trưởng, khi sự phát triển không chỉ dựa trên việc giải phóng nguồn lực hiện hữu, mà còn dựa trên một thể chế ổn định, công bằng và hiệu quả.