Thứ sáu, 15/01/2021 00:00 (GMT+7)

Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 52 được cho là tăng rào cản tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài

Những quy định trong Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử (TMĐT) đang được Bộ Công Thương và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam xây dựng và lấy ý kiến đang tạo ra những rào cản đối với doanh nghiệp nước ngoài.

Theo đó, khoản 5 Điều 67c của Dự thảo quy định: “Cơ quan cấp Giấy phép kinh doanh về hoạt động cung cấp dịch vụ thương mại điện tử của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có trách nhiệm lấy ý kiến của Bộ Công Thương trước khi cấp, điều chỉnh, thay đổi đăng ký tại các giấy tờ có liên quan”.

Quy định này bất cập ở chỗ khi làm thủ tục đầu tư, doanh nghiệp, nhà đầu tư đã phải xin ý kiến chấp thuận từ Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư (có tham vấn ý kiến Bộ Công Thương) nên việc tiếp tục phải xin ý kiến Bộ Công Thương khi doanh nghiệp thực hiện các thủ tục điều chỉnh, thay đổi đăng ký tại các giấy tờ có liên quan làm tăng thủ tục hành chính, gây khó khăn gấp nhiều lần cho doanh nghiệp, và gây sự bất an cho nhà đầu tư nước ngoài trong quá trình hoạt động tại Việt Nam.

Việc chấp thuận đầu tư đã được Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư phê duyệt thì việc hỏi lại ý kiến Bộ Công Thương khi điều chỉnh đăng ký/giấy phép có thể mang tính chồng chéo và gây xung đột vì chức năng cấp phép đầu tư thuộc cơ quan đăng ký đầu tư.

Khoản 2(c) Điều 67c của Dự Thảo quy định: “Nhà đầu tư nước ngoài chi phối từ 1 doanh nghiệp trở lên thuộc nhóm 5 doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường dịch vụ thương mại điện tử theo danh sách do Bộ Công Thương công bố phải có ý kiến thẩm định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an. Nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường quy định tại điểm này không bao gồm doanh nghiệp có thị phần ít hơn 10% trên thị trường liên quan”.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật TNHH SB LAW cho rằng, khái niệm “chi phối” có điểm trùng lặp với quy định của Luật Cạnh Tranh, và một hành vi (ví dụ như nhà đầu tư nước ngoài mua 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp) có thể làm cho doanh nghiệp phải thực hiện cùng lúc 2 thủ tục thẩm định riêng biệt theo

Dự thảo (ý kiến thẩm định của Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An), và Luật Cạnh Tranh (Thông Báo Tập Trung Kinh Tế đến Ủy Ban Cạnh Tranh Quốc Gia – Trực thuộc Bộ Công Thương). 

Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật TNHH SB LAW nêu quan điểm tại hội thảo góp ý Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 52/2013/NĐ-CP về TMĐT.

Ngoài ra, các vấn đề liên quan đến hoạt động vận hành hàng ngày của doanh nghiệp như kiểm soát hệ thống công nghệ thông tin cung cấp dịch vụ TMĐT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc quyền quyết định ngành nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh của doanh nghiệp… cũng có thể phải thông qua thủ tục thẩm định của Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An. 

Với quy định trong Dự thảo thì các nhà đầu tư nước ngoài sẽ không còn nhiều cơ hội để tiếp cận thị trường theo các khuôn khổ pháp lý đã được thiết lập bởi Luật đầu tư 2014, Nghị định 52 trước đó nữa.

Dự thảo cũng đặt các nhà đầu tư nước ngoài đứng trước rủi ro có khả năng mất một phần hoặc toàn bộ số vốn đã đầu tư tại Việt Nam, nếu không thể thoái vốn cho một bên thứ ba do các rào cản về đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong bối cảnh phần lớn các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ sàn TMĐT vẫn đang trong tình trạng lỗ năm sau cao hơn năm trước, một số doanh nghiệp đã phải tính đến phương án mua bán, sáp nhập doanh nghiệp để tiếp tục có vốn hoạt động. 

Khoản 2(c) Điều 67c của Dự thảo còn giới hạn việc tiếp cận thị trường ở quy định chỉ có “các nhà đầu tư nước ngoài thuộc danh sách các công ty công nghệ uy tín toàn cầu trong lĩnh vực thương mại điện tử do Bộ Công Thương công bố định kỳ” mới được phép tiếp cận thị trường TMĐT tại Việt Nam. 

Theo Chủ tịch Công ty Luật TNHH SB LAW, việc giới hạn ở “Công ty công nghệ uy tín toàn cầu” là tiêu chí mang tính chủ quan, với các tiêu chí không rõ ràng và mang tính phân biệt đối xử, khiến cho nhiều nhà đầu tư có uy tín ở cấp độ khu vực hoặc trong các lĩnh vực không phải là lĩnh vực công nghệ bị hạn chế tiếp cận thị trường Việt Nam, tức gây sự bất bình đẳng cho chính các nhà đầu tư đến từ khu vực ASEAN hoặc các nhà đầu tư đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc là những quốc gia có đầu tư hoặc đóng góp về vốn ODA lớn cho Việt Nam. 

Hơn nữa, việc hạn chế chỉ có những “Công ty công nghệ” có uy tín cũng loại bỏ một nhóm các nhà đầu tư có tiềm lực từ nước ngoài là các Quỹ đầu tư hiện đang có các hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Khuê Hiền