hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Tọa đàm khoa học do Học viện Tài chính và Trường Kinh doanh - Đại học Hồng Kông tổ chức với chủ đề "Khung pháp lý và những đổi mới trong quản lý tài sản mã hóa" đã mang lại cái nhìn toàn diện về khung pháp lý, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực tài sản số.
PGS. TS Nguyễn Đào Tùng - Giám đốc Học viện Tài chính cho biết, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã phơi bày những lỗ hổng cố hữu của hệ thống tài chính truyền thống như xung đột lợi ích, thiếu minh bạch và những rủi ro vận hành tiềm tàng.
Trong bối cảnh đó, Bitcoin ra đời, đánh dấu sự xuất hiện của một lớp tài sản hoàn toàn mới là “tài sản mã hóa”. Được xây dựng trên nền tảng công nghệ blockchain, tài sản mã hóa hứa hẹn mang lại sự minh bạch, phi tập trung và khả năng tái định hình các giao dịch tài chính.
Tại Việt Nam, chứng kiến sự phát triển vượt bậc của thị trường tài sản mã hóa. Theo các ước tính gần đây, dòng tiền đổ vào Việt Nam ở lĩnh vực này đạt khoảng 120 tỷ USD. “Với tốc độ tăng trưởng ấn tượng cùng tiềm năng to lớn, Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường tài sản mã hóa năng động nhất thế giới”, PGS.TS Nguyễn Đào Tùng nhấn mạnh.
Cũng theo PGS.TS Nguyễn Đào Tùng, đi cùng cơ hội là những thách thức lớn về quản lý rủi ro, bảo vệ nhà đầu tư và đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính. Sau 17 năm phát triển, hệ sinh thái tài sản mã hóa đã bộc lộ không ít vấn đề như giao dịch bất hợp pháp, gian lận, thiếu quản trị nội bộ và khó khăn trong định giá.
Từ đó, nhiều biến động lớn xảy ra, tiêu biểu là giai đoạn “Mùa Đông tiền số” 2022 - 2023. Giai đoạn này, được xem như một “khủng hoảng tài chính của tài sản mã hóa”, đã để lại những bài học sâu sắc về sự cần thiết của một khung pháp lý chặt chẽ, bền vững và linh hoạt để bảo vệ nhà đầu tư, thúc đẩy đổi mới và duy trì niềm tin của cộng đồng.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, Chính phủ Việt Nam đã có những chỉ đạo kịp thời nhằm đưa tài sản mã hóa vào khuôn khổ quản lý nhà nước. Thực hiện nhiệm vụ được Bộ Tài chính giao, Học viện Tài chính tự hào đảm nhận vai trò chủ nhiệm một nhiệm vụ khoa học trọng điểm, tập trung nghiên cứu bản chất, đặc điểm và khung pháp lý cho tài sản mã hóa.
PGS.TS Nguyễn Đào Tùng khẳng định, đồng thời tin tưởng Tọa đàm sẽ mang lại những góc nhìn sâu sắc, cùng giải pháp thiết thực và ý tưởng đột phá trong xây dựng khung pháp lý minh bạch, bền vững cho tài sản mã hóa. Qua đó, thể hiện tinh thần trách nhiệm chung trong việc định hình một tương lai tài chính số an toàn và sáng tạo cho Việt Nam.
GS. Phan Quang Tuấn - Giám đốc Văn phòng Đại diện Đại học Hồng Kông tại Việt Nam, Phó Giám đốc Trung tâm Dự án và Nghiên cứu Châu Á (ACRC), Chủ tịch Hiệp hội Hệ thống Thông tin Việt Nam (VAIS) cho rằng, việc hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các thách thức pháp lý và kỹ thuật của tài sản số là vô cùng quan trọng.
Việt Nam với tiềm năng phát triển kinh tế số mạnh mẽ, cần tận dụng các bài học kinh nghiệm từ các thị trường phát triển như Hồng Kông để xây dựng một hệ sinh thái tài chính số an toàn và hiệu quả. Đại học Hồng Kông sẽ tiếp tục phối hợp với Học viện Tài chính tổ chức các sự kiện tương tự để hỗ trợ nghiên cứu, đào tạo, và đổi mới trong lĩnh vực công nghệ tài chính, qua đó đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế số tại Việt Nam.
Để đảm bảo tính nhất quán, hiệu quả, cần phân định rõ trách nhiệm và có cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, cơ quan liên quan trong việc ban hành quy định về quản lý tài sản số.
Trong bối cảnh hành lang pháp lý về quản lý tải sản số còn đang trong quá trình xây dựng, phía doanh nghiệp và nhà đầu tư cũng cần lưu ý một số điểm sau: Thứ nhất, chú trọng vào việc nắm bắt thông tin, nhất là những thông tin liên quan đến khung pháp lý đối với tài sản kỹ thuật số tại Việt Nam đã, đang được cập nhật như thế nào. Việc này giúp các doanh nghiệp và nhà đầu tư đưa ra quyết định sáng suốt, giảm thiểu tối đa những tranh chấp có thể phát sinh mà chưa có quy chế pháp lý điều chỉnh.
Thứ hai, cần đẩy mạnh việc tham vấn ý kiến tư vấn đến từ các chuyên gia pháp lý, đặc biệt là những người am hiểu luật pháp Việt Nam trong lĩnh vực tài sản kỹ thuật số. Những ý kiến tham khảo được từ các chuyên gia pháp lý này sẽ giúp các doanh nghiệp, nhà đầu tư tiên liệu trước các tình huống pháp lý có thể xảy ra. Để từ đó, tự mình dự phòng các giải pháp pháp lý phù hợp đối với từng tình huống, dự thảo hợp đồng với các điều khoản liên quan đến tài sản kỹ thuật số có độ an toàn về mặt pháp lý được đảm bảo cao nhất có thể.
Thứ ba, mỗi doanh nghiệp và nhà đầu tư cần tập trung nguồn lực vào cả hoạt động quản lý rủi ro (Risk Management) và tuân thủ (Compliance). Tính quản trị rủi ro được thể hiện ở khía cạnh trước bất kể một hoạt động đầu tư hay ký kết các thỏa thuận hợp tác kinh doanh, mà trong đó có nội dung liên quan đến tài sản kỹ thuật số thì những thỏa thuận có liên quan cần phải được soát xét pháp lý một cách kỹ lưỡng và nhận diện các rủi ro tiềm ẩn.
Tính tuân thủ sẽ được thể hiện ở khía cạnh mỗi doanh nghiệp, nhà đầu tư cần thực hiện nghiêm túc công tác quản trị tốt, cơ chế báo cáo công khai, minh bạch và các biện pháp an ninh mạng để bảo vệ tài sản kỹ thuật số.
Thứ tư, đối với các giao dịch với đối tác nước ngoài, mỗi doanh nghiệp cần làm tốt công tác đối ngoại bởi thông qua hoạt động này, doanh nghiệp nhà đầu tư có cơ hội tìm hiểu về môi trường pháp lý kinh doanh đối với các tài sản kỹ thuật số, từ đó có thể vận dùng vào trong các thương vụ tiếp theo hoặc chính các doanh nghiệp, nhà đầu tư sẽ có những kiến nghị hoàn thiện thiết thực cho các quy định pháp luật điều chỉnh tài sản kỹ thuật số trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.
Thứ năm, các doanh nghiệp, đối tác cũng cần phải tích cực tham gia vào các hội thảo khoa học, các diễn đàn trao đổi của các Hiệp hội ngành với những chủ đề liên quan đến pháp luật về tài sản kỹ thuật số. Những diễn đàn này sẽ là kênh thông tin để cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư kết nối, trao đổi, cập nhật các chính sách pháp luật hiện hành về tài sản kỹ thuật số cũng như đề xuất các kiến nghị hoàn thiện.