hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Bộ KH&ĐT cho biết, hệ thống ưu đãi đầu tư hiện hành được xây dựng theo nguyên tắc nhà nước sẽ miễn, giảm nghĩa vụ tài chính đối với các chủ thể kinh doanh nếu thuộc đối tượng khuyến khích đầu tư.
Tính cần thiết thành lập quỹ hỗ trợ mới
Các nghĩa vụ tài chính được miễn, giảm bao gồm thuế TNDN; thuế nhập khẩu; tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất và tăng mức chi phí được trừ, thời gian khấu trừ khi tính thuế. Đối tượng khuyến khích đầu tư là ngành, nghề, địa bàn khuyến khích đầu tư, doanh nghiệp công nghệ cao và các dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư lớn, doanh thu cao, sử dụng nhiều lao động, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.
Về hình thức ưu đãi, đối với thuế TNDN, nhà đầu tư sẽ được áp dụng mức thuế suất ưu đãi bao gồm: 17%, 15%, 10%, 9%, 7% và 5% tùy thuộc đối tượng ưu đãi đầu tư; nhà đầu tư cũng được áp dụng ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp với các mức: miễn thuế tối đa không quá 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá 4 năm tiếp theo; miễn thuế không quá 4 năm và giảm 50% không quá 9 năm tiếp theo; miễn thuế không quá 6 năm và giảm 50% không quá 13 năm tiếp theo. Về nghĩa vụ tài chính về đất đai, nhà đầu tư được ưu đãi miễn, giảm tiền thuê đất với các mức 3 năm, 7 năm, 11 năm, 15 năm hoặc toàn bộ thời gian thuê; được miễn, giảm tiền sử dụng đất trong một số trường hợp.
Chính sách ưu đãi đầu tư của Việt Nam nêu trên được đánh giá là cạnh tranh, nhờ đó, cùng với các thế mạnh như: tình hình kinh tế chính trị ổn định, tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, vị trí địa lý chiến lược, chi phí sản xuất cạnh tranh, nguồn lao động dồi dào, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và khu vực, thị trường tiềm năng…, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu lớn trong việc thu hút ĐTNN, với việc dòng vốn ĐTNN liên tục tăng qua các năm. Năm 2020, Việt Nam lần đầu tiên vào nhóm 20 nước thu hút ĐTNN hàng đầu thế giới, trong khi ĐTNN trên toàn cầu có xu hướng giảm. Năm 2021, vốn ĐTNN vào Việt Nam tiếp tục duy trì sự ổn định và vượt mốc 31 tỷ USD, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2020. Trong năm 2022, Việt Nam cũng đã thu hút gần 30 tỷ USD, dù giảm so với cùng kỳ nhưng cho thấy tín hiệu tích cực trong đại dịch. Năm 2023, vốn ĐTNN vào Việt Nam đạt 36,51 tỷ USD (tính đến ngày 20/12/2023), đây là mức cao kỷ lục trong giai đoạn 2018 – 2023.Theo đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang đề nghị xây dựng Nghị định về thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ Hỗ trợ đầu tư.
Theo dự thảo, Quỹ Hỗ trợ đầu tư (Quỹ) là quỹ tài chính nhà nước. Quỹ hoạt động theo quy định tại Nghị định này và quy định của pháp luật có liên quan, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
Tên tiếng Việt là Quỹ Hỗ trợ đầu tư. Tên giao dịch bằng tiếng Anh: Investment Support Fund (viết tắt là ISF). Trụ sở chính của Quỹ đặt tại Hà Nội.
Quỹ có chức năng tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí bằng tiền và hiện vật để tài trợ, hỗ trợ cho hoạt động đầu tư công nghệ cao, chuyển đổi xanh theo quy định tại Nghị định này.
Đối tượng hỗ trợ là các doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo quy định pháp luật Việt Nam và đáp ứng các tiêu chí hỗ trợ chi phí theo quy định. Quỹ hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động trên phạm vi toàn quốc.
Quỹ hoạt động theo nguyên tắc không vì mục đích lợi nhuận
Dự thảo nêu rõ, mục tiêu hoạt động của Quỹ nhằm khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư, tập đoàn đa quốc gia đầu tư tại Việt Nam. Hỗ trợ các doanh nghiệp đối với một số lĩnh vực cần khuyến khích đầu tư.
Quỹ hoạt động theo nguyên tắc không vì mục đích lợi nhuận. Quỹ chịu trách nhiệm trong phạm vi ngân sách hỗ trợ của Quỹ. Quỹ hỗ trợ đúng đối tượng đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại Nghị định này.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Quỹ
Nhiệm vụ của Quỹ gồm: Tiếp nhận, quản lý và sử dụng tài sản, các nguồn ngân sách hoạt động được ngân sách nhà nước, các nguồn kinh phí nhận viện trợ, tài trợ và các nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật Việt Nam để tạo nguồn tài chính hỗ trợ chi phí.
Hỗ trợ chi phí cho doanh nghiệp theo phương thức quy định; Lập dự toán và đề nghị bổ sung (nếu có) ngân sách nhà nước. Thực hiện chế độ báo cáo, kế toán, quyết toán theo quy định.
Quỹ có các quyền hạn: Tiếp nhận các khoản tài trợ, hỗ trợ, đóng góp tự nguyện bằng tiền và hiện vật cho Quỹ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; được sử dụng nguồn vốn của Quỹ để tài trợ, hỗ trợ đầu tư theo quy định tại Nghị định này.
Được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại để tiếp nhận, quản lý nguồn ngân sách do ngân sách nhà nước cấp và các nguồn vốn nhận viện trợ, tài trợ, huy động hợp pháp khác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;
Được sử dụng ngân sách nhàn rỗi của Quỹ để gửi tiết kiệm kỳ hạn tối đa không quá 12 tháng tại các ngân hàng thương mại nhằm mục đích bảo toàn và phát triển ngân sách hoạt động cho Quỹ.
Quỹ chi trực tiếp bằng tiền để hỗ trợ
Theo dự thảo, ngân sách hoạt động của Quỹ gồm: 1. Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho Quỹ vào tháng 01 hằng năm; 2. Các nguồn ngoài ngân sách nhà nước như: a) Lãi tiền gửi tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng thương mại; b) Các khoản cho tặng, đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài; các nguồn hợp pháp khác (nếu có); 3. Nguồn tồn dư Quỹ hàng năm.
Quỹ chi trực tiếp bằng tiền để hỗ trợ chi phí theo quy định. Quỹ tổ chức thực hiện công tác thu, chi, kế toán theo quy định tại Nghị định này, hướng dẫn của Bộ Tài chính và quy định của pháp luật có liên quan khác.
Năm tài chính của Quỹ bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 hằng năm.