hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Trong bối cảnh thế giới đang gấp rút hiện thực hóa các cam kết giảm phát thải khí nhà kính, tiến tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, việc Việt Nam chuẩn bị khung pháp lý và thể chế cho thị trường carbon không chỉ mang ý nghĩa đối nội mà còn là “giấy thông hành” để hội nhập với các
Yêu cầu phân định rõ ràng chức năng quản lý
Chiều 9/9, tại cuộc họp do Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà chủ trì nhằm nghe báo cáo về Dự thảo Nghị định về sàn giao dịch carbon trong nước, các cơ quan quản lý, chuyên gia và lãnh đạo bộ ngành đều nhấn mạnh rằng đã đến lúc phải phân định rõ trách nhiệm, hoàn thiện hành lang pháp lý, đồng thời sớm đưa thị trường carbon vào vận hành thử nghiệm để đo lường mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp Việt Nam trước sân chơi mới đầy tiềm năng nhưng cũng không ít thách thức này.
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà chỉ rõ, quốc gia nào chuẩn bị tốt thì sẽ chủ động nắm bắt lợi ích, còn nếu chậm chân thì sẽ bị động, thậm chí bất lợi trong cạnh tranh quốc tế, và để thị trường carbon vận hành hiệu quả thì điều cốt lõi không chỉ nằm ở kỹ thuật đo đếm, giám sát phát thải, mà còn phải có một thị trường thực sự, nơi tồn tại quan hệ cung – cầu rõ ràng, nơi doanh nghiệp nhìn thấy lợi ích thiết thực từ việc đầu tư công nghệ, đổi mới quản trị để giảm phát thải, và nơi các công cụ kinh tế như hạn ngạch, tín chỉ hay thuế carbon vận hành minh bạch, công bằng, tránh biến tướng thành cơ hội đầu cơ, thao túng giá.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, hàng hóa trên sàn giao dịch carbon sẽ bao gồm hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon, được quy định cụ thể tại Nghị định 119/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 06/2022/NĐ-CP về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozon. Các chủ thể tham gia không chỉ là các cơ sở được phân bổ hạn ngạch mà còn có các tổ chức sở hữu tín chỉ carbon tại Việt Nam, cùng những tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính, trong đó công ty chứng khoán đóng vai trò trung gian khớp lệnh, thanh toán, song không trực tiếp giao dịch nhằm hạn chế tình trạng đầu cơ, thổi giá.
Điểm nhấn đáng chú ý trong dự thảo nghị định là việc tận dụng hạ tầng sẵn có của thị trường chứng khoán để vận hành sàn carbon, qua đó tiết kiệm chi phí, bảo đảm an toàn và hạn chế rủi ro, đồng thời phân định rõ quyền và nghĩa vụ giữa Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Các công ty chứng khoán giai đoạn đầu sẽ đóng vai trò trung gian kiểm soát số dư, ngăn chặn tình trạng đặt lệnh khống, còn về thanh toán, ngân hàng thương mại đủ điều kiện sẽ được lựa chọn làm ngân hàng thanh toán, với nguyên tắc giai đoạn thí điểm không thu phí để khuyến khích tham gia, bắt đầu áp dụng thu phí từ năm 2029.
Để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả, dự thảo quy định chặt chẽ cơ chế giám sát đa tầng: Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm toàn diện về phân bổ hạn ngạch, quản lý tín chỉ; Ủy ban Chứng khoán Nhà nước phối hợp kiểm tra; Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam giám sát Sở Hà Nội; còn Tổng Công ty Lưu ký giám sát thành viên lưu ký, và các thành viên giao dịch phải chịu trách nhiệm giám sát khách hàng. Cơ chế này được thiết kế trên nguyên tắc “một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì”, nhằm xóa bỏ tình trạng chồng chéo trách nhiệm vốn thường thấy trong quản lý nhà nước.
Tuy vậy, hai vấn đề vẫn còn ý kiến khác nhau là cơ chế lựa chọn ngân hàng thanh toán và trách nhiệm quản lý, giám sát sàn giao dịch carbon. Trong đó, nhiều ý kiến cho rằng cần phân định rành mạch vai trò của Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường: Bộ Tài chính, cùng Ủy ban Chứng khoán, quản lý toàn diện hoạt động vận hành sàn; còn Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm về tính hợp pháp và chất lượng hàng hóa carbon được đưa vào giao dịch, đồng thời giám sát, phối hợp kiểm tra để bảo đảm cân đối cung – cầu.
Ở góc độ kỹ thuật, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành cho biết hệ thống đăng ký tín chỉ carbon đang được xây dựng và sẽ kết nối trực tiếp với hệ thống chứng khoán, cho phép tín chỉ của doanh nghiệp được ghi nhận, lưu ký và chuyển nhượng minh bạch, đồng thời đảm bảo thông tin từ giao dịch quay trở lại hệ thống đăng ký để phục vụ công tác đo đếm, theo dõi và báo cáo quốc tế. Điều này không chỉ giúp Việt Nam minh chứng cam kết giảm phát thải mà còn tạo uy tín, độ tin cậy trong hợp tác quốc tế.
Xây dựng cơ chế minh bạch
Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà nhấn mạnh bốn nhóm vấn đề mà Bộ Tài chính cần tiếp thu để hoàn thiện dự thảo. Trước hết, phải phân định rành mạch trách nhiệm giữa các bộ ngành, trong đó Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán chịu trách nhiệm quản lý nghiệp vụ và tổ chức vận hành, còn Bộ Tài nguyên và Môi trường đảm bảo chất lượng, tính pháp lý của hàng hóa carbon.
Thứ hai, Bộ Tài nguyên và Môi trường phải có cơ chế giám sát toàn diện cung – cầu tín chỉ, tránh tình trạng cung dư thừa làm rớt giá hoặc cung thiếu khiến giá bị đẩy lên quá cao, đồng thời giai đoạn đầu cần có chính sách tạo cầu, khuyến khích giao dịch thực chất để thị trường không chỉ tồn tại trên giấy.
Thứ ba, liên quan đến ngân hàng thanh toán, Nghị định cần quy định ít nhất một ngân hàng đủ điều kiện được Ủy ban Chứng khoán lựa chọn, bảo đảm năng lực kỹ thuật, pháp lý và khả năng phục vụ khách hàng, trong khi các ngân hàng khác có thể tham gia sau khi đáp ứng đủ chuẩn. Thứ tư, về xử lý tranh chấp, khiếu nại và các hành vi bị cấm, Phó Thủ tướng lưu ý Nghị định chỉ cần quy định nguyên tắc chung, còn chi tiết sẽ tham chiếu các luật hiện hành về chứng khoán, dân sự, thương mại, nhằm tránh trùng lặp và đảm bảo tính linh hoạt.
Điểm quan trọng hơn cả, theo Phó Thủ tướng, là cơ quan quản lý và vận hành thị trường carbon phải đạt chuẩn quốc tế, đủ năng lực đo đếm, thống kê và xác nhận tín chỉ chính xác, bởi chỉ có như vậy mới xây dựng được niềm tin ngay từ giai đoạn đầu và giúp thị trường carbon Việt Nam không chỉ vận hành trong phạm vi nội địa mà còn đủ điều kiện kết nối, tham gia vào thị trường quốc tế.
Việc ban hành Nghị định về sàn giao dịch carbon trong nước vì thế không chỉ là bước đi kỹ thuật mà còn mang ý nghĩa chiến lược, bởi một khi khung khổ pháp lý được hoàn thiện, thị trường sẽ tạo động lực để doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tối ưu quản trị nhằm giảm phát thải, đồng thời mở ra một “nguồn vốn xanh” mới, nơi tín chỉ carbon có thể trở thành tài sản giao dịch, tạo giá trị kinh tế song song với giá trị môi trường. Đây chính là tiền đề để Việt Nam không chỉ thực hiện cam kết Net Zero mà còn khai thác lợi thế trong xu hướng kinh tế carbon thấp đang trở thành chuẩn mực toàn cầu.