Đẩy mạnh các chính sách vĩ mô hỗ trợ tăng trưởng

Mặc dù đã có những dấu hiệu của sự phục hồi nhưng kinh tế thế giới vẫn có nguy cơ rơi vào một giai đoạn mới của khủng hoảng trước khả năng làn sóng dịch bệnh Covid-19 bùng phát trở lại. Điều này đòi hỏi các nước phải có những chính sách và hành động khẩn trương, quyết liệt để đảm bảo sự phục hồi bền vững trong tương lai.

Ưu tiên các chính sách đảm bảo cuộc sống cho người dân

Vấn đề đảm bảo sức khỏe, tính mạng người dân cần được đặt ưu tiên hàng đầu trong các chính sách. Trên phạm vi toàn cầu, các nước đã và đang triển khai nhiều biện pháp đảm bảo cuộc sống cho người dân. Mạng lưới an sinh xã hội sẽ cần được tiếp tục duy trì; trong một số trường hợp, mở rộng hỗ trợ từ trợ cấp cho các hộ gia đình thu nhập thấp và người thất nghiệp bị tác động bởi dich bệnh sang tiếp cận các dịch vụ y tế và bảo hiểm thất nghiệp; tăng cường trợ cấp tiền mặt và các hình thức hỗ trợ khác cho người lao động tại khu vực không chính thức thông qua cơ chế số hóa để tối ưu hiệu quả. Đối với các nước có mức độ bất bình đẳng cao cần giành ưu tiên cho các nhóm đối tượng dễ tổn thương, yếm thế trong xã hội.

Bên cạnh đó, nhiều việc làm bị mất có thể sẽ không trở lại do khủng hoảng đã làm thay đổi mô hình tiêu dùng và cơ cấu ngành nghề trong dài hạn. Vì vậy, để tạo sinh kế, góp phần phục hồi ổn định, bền vững, người lao động sẽ tiếp tục cần được hỗ trợ, bao gồm cả đào tạo lại, giúp họ có thể tìm kiếm công việc mới, chuyển đổi ngành nghề từ các lĩnh vực bị thu hẹp sang các lĩnh vực đang phát triển. Việc hỗ trợ các doanh nghiệp có tiềm năng, triển vọng cũng sẽ giúp cho người lao động được hưởng lợi. Trong đó, các nước sẽ cần dành sự quan tâm đáng kể cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) – là những doanh nghiệp có vai trò quan trọng tạo việc làm cho người lao động. Các nghiên cứu đã cho thấy, nếu không có sự hỗ trợ, số SMEs bị phá sản có thể tăng gấp ba, từ mức trung bình 4% trước khi dịch bệnh xảy ra, lên 12% trong năm 2020, đe dọa làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp và cũng như ảnh hưởng xấu đến bảng cân đối kế toán của các ngân hàng.

Theo các chuyên gia, chi phí cho các biện pháp tài khóa là rất đối lớn, có thể làm gia tăng nợ công. Tuy vậy, việc duy trì hỗ trợ cho các khu vực quan trọng trong giai đoạn này là cần thiết bởi cái giá phải trả cho việc rút tiền quá sớm có thể sẽ cao hơn rất nhiều. Tất nhiên, các biện pháp cần có mục tiêu xác định và ngân sách cần được đánh giá dựa trên chi phí hiệu quả và sự bền vững của nợ công trong trung hạn. Đối với các nền kinh tế đang phát triển, cần thận trọng với các biện pháp mở rộng bảng cân đối kế toán của NHTW để tài trợ cho các nguồn lực cần thiết, ngoại trừ các nhu cầu cấp bách trong ngắn hạn và trước mắt.

Một trong những chính sách quan trọng khác là đảm bảo ổn định tài chính. Tình trạng mất việc làm, phá sản và tái cấu trúc các ngành kinh tế có thể đem đến những thách thức cho lĩnh vực tài chính – trong đó có vấn đề mất tín dụng. Các nước, vì thế cần tăng cường công tác thanh tra, giám sát và hoàn thiện hệ thống pháp lý phù hợp với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế để đảm bảo sử dụng linh hoạt nguồn vốn hiện có cùng các thanh khoản dự phòng. Việc điều hành chính sách tiền tệ của các NHTW cũng cần tiếp tục duy trì sự hỗ trợ cho phục hồi kinh tế, đảm bảo hoạt động an toàn, lành mạnh, hiệu quả của các thị trường tiền tệ, ngoại hối và chứng khoán. Trước những tác động của đại dịch Covid-19 quay lại khiến áp lực với các doanh nghiệp trở nên nặng nề hơn, giải pháp tín dụng được nhiều doanh nghiệp tính đến. Thời gian qua, hàng loạt doanh nghiệp hàng không đã phải “cầu viện” Chính phủ các gói vay hàng chục ngàn tỷ đồng với lãi suất 0%/năm. Hàng loạt doanh nghiệp du lịch, bất động sản nghỉ dưỡng, khách sạn… và nhiều hiệp hội cũng nhiều lần đề nghị ngành ngân hàng giảm 30 – 50% lãi suất cho vay hiện tại, nhưng chưa được chấp thuận.

Trên thực tế thời gian qua, chính sách tiền tệ đã hỗ trợ rất tích cực cho doanh nghiệp và nền kinh tế. So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, gói giãn, hoãn nợ, cơ cấu nợ cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi Covid-19 của Việt Nam, xét theo quy mô GDP, đã lớn thứ hai.

Báo cáo trình Chính phủ mới đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, tính đến ngày 28/7/2020, tín dụng toàn hệ thống tăng 3,45% so với cuối năm 2019 (cùng kỳ tăng 7,13%). Trong gần 7 tháng đầu năm, các tổ chức tín dụng đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho hơn 272.000 khách hàng, với dư nợ hơn 210.000 tỷ đồng; miễn, giảm, hạ lãi suất cho hơn 435.000 khách hàng với dư nợ hơn 1,27 triệu tỷ đồng; cho vay mới lãi suất ưu đãi với doanh số lũy kế từ ngày 23/1/2020 đến nay đạt 1,17 triệu tỷ đồng cho hơn 247.000 khách hàng…

Hiện Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang nghiên cứu sửa đổi Thông tư 01/2020/TT-NHNN theo hướng kéo dài thời gian hỗ trợ có thể đến hết năm 2020 hoặc lâu hơn nữa tùy theo diễn biến và ảnh hưởng của dịch bệnh.

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Lạm phát thấp và tỷ giá ổn định đang tạo điều kiện cho lãi suất có thể giảm thêm. Tuy vậy, đa phần ý kiến cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, muốn kích thích tổng cầu, mở rộng chính sách tài khóa vẫn là quan trọng nhất.

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế dư địa cho chính sách tiền tệ vẫn còn, đặc biệt là việc giảm thêm lãi suất, đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng hay sử dụng một phần quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia. Tuy nhiên, kỳ vọng có các giải pháp đột phá về tiền tệ, như giảm sâu lãi suất hay bơm tiền “ồ ạt” để cứu doanh nghiệp, là rất khó.

Để cứu doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay, việc đưa ra giải pháp đột phá về lãi suất, tín dụng là cần thiết, như các gói vay lãi suất 0% cho các ngành hàng không, du lịch… Tuy nhiên, các gói vay này – nếu có – lại liên quan đến tài khóa, chứ không phải chính sách tiền tệ, vì sử dụng tiền ngân sách, ngân hàng chỉ là nơi giải ngân hộ.

Chủ tịch HĐQT một ngân hàng TMCP cho hay: “Hiện lạm phát, tỷ giá ổn định khiến ngân hàng có thể giảm thêm lãi suất, nhưng mức giảm không nhiều. Thời gian qua, ngân hàng giảm lãi vay chủ yếu là chấp nhận hy sinh lợi nhuận để hỗ trợ doanh nghiệp. Tuy vậy, ngân hàng chỉ có thể giảm lãi suất đến mức độ nhất định, vì vẫn phải bảo toàn vốn cho người gửi tiền. Nếu muốn có các gói vay lãi suất 0% như đề nghị của doanh nghiệp, thì phải sử dụng tiền của ngân sách”.

Trong bối cảnh hiện nay, để kích cầu, điều quan trọng nhất vẫn là phải thực hiện thật nhanh các gói hỗ trợ tài khóa hiện tại và mở rộng hơn nữa quy mô các gói này. Theo tính toán, tổng hỗ trợ ròng của các gói hỗ trợ tài khóa, tiền tệ của nước ta hiện mới chỉ gần 3% GDP, trong khi tỷ lệ bình quân ở các nước ASEAN lên tới 8 – 10%. Con số này cho thấy, dư địa tài khóa để hỗ trợ tăng trưởng của Việt Nam là còn khá lớn.

Ngân hàng Nhà nước vừa phát đi thông báo 3 quyết định hạ lãi suất điều hành các loại tiền gửi tại NHNN từ ngày 6/8/2020. Đây được cho là một trong những động thái nới lỏng tiền tệ của NHNN. Cụ thể, NHNN ban hành quyết định số 1349/QĐ-NHNN về mức lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc của tổ chức tín dụng (TCTD) tại NHNN. Theo đó, lãi suất đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VNĐ là 0,5%/năm, lãi suất đối với tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng VNĐ là 0%/năm.

Quyết định số 1350/QĐ-NHNN về mức tiền gửi bằng VNĐ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tín dụng vi mô tại NHNN. Theo đó, lãi suất áp dụng đối với tiền gửi này là 0,8%/năm.

Theo NHNN, quyết định điều chỉnh lãi suất trên nằm trong chuỗi đồng bộ nhiều giải pháp điều hành chính sách tiền tệ ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch COVID-19.

Theo đó, đây có thể được coi là một động thái nới lỏng tiền tệ. Bởi khi NHNN tăng lãi suất tiền gửi của các ngân hàng tại NHNN là khuyến khích gửi tiền và hút tiền vào. Còn khi NHNN giảm lãi suất là muốn các ngân hàng “đẩy” lượng tiền đó vào lưu thông trên thị trường. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một động thái nới lỏng nhẹ nhàng vì lượng tiền liên quan tới 3 quyết định trên của NHNN là không quá lớn. Vì vậy, động thái trên của NHNN là phù hợp khi nhiều doanh nghiệp trong nước đang gặp khó khăn phải “đương đầu” với dịch bệnh, chịu tác động của kinh tế thế giới và kinh tế trong nước xuống dốc.

Việc nỗ lực “đẩy” thêm tiền vào lưu thông sẽ giúp thanh khoản của hệ thống dồi dào hơn. Doanh nghiệp đang rất cần tiền mặt để duy trì hoạt động. Doanh nghiệp duy trì được hoạt động cũng hỗ trợ thanh khoản ngân hàng, vì khi phát sinh nợ xấu, dù lợi nhuận ngân hàng có tốt thì dòng tiền vẫn gặp khó khăn.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế

Tăng cường hợp tác quốc tế song phương và đa phương có vai trò cốt yếu để rút ngắn thời gian khủng hoảng và đảm bảo sự phục hồi bền vững. Lĩnh vực hợp tác trọng tâm đầu tiên là y tế, đảm bảo nguồn cung y tế đồng đều thông qua hợp tác về sản phẩm, thiết bị y tế, thuốc men; đảm bảo phân phối và khả năng tiếp cận công bằng các phương pháp điều trị hiệu quả và vắc xin phòng ngừa dịch bệnh giữa các khu vực dân cư và giữa các quốc gia.

Trong lĩnh vực thương mại, các nước cần nỗ lực đảm bảo chuỗi cung ứng toàn cầu, hạn chế tối đa những đổ vỡ trong hệ thống thương mại toàn cầu; đẩy mạnh cải cách Tổ chức thương mại thế giới và tìm kiếm thỏa thuận toàn diện về thuế điện tử.

Hợp tác quốc tế cũng cần thiết để tăng cường hỗ trợ tài chính cho các quốc gia thu nhập thấp để ứng phó hiệu quả với các vấn đề y tế và kinh tế do khủng hoảng, bao gồm mở rộng mạng lưới an sinh xã hội và bảo vệ nguồn nhân lực và đảm bảo sinh kế. Đồng thời, các nước đang phát triển cần được đảm bảo có thể cung cấp tài chính cho các chi tiêu cần thiết và giải quyết những thách thức về tính bền vững của nợ công. Do đó, việc tiếp tục triển khai chương trình giãn nợ của G20 cũng như các sáng kiến hỗ trợ khác có vai trò đặc biệt quan trọng.

Các tổ chức tài chính quốc tế có thể cung cấp giải ngân nhanh hỗ trợ ngân sách và các dự án đầu tư. Trong khi đó NHTW của các nước phát triển cần hợp tác sẵn sàng thực hiện giao dịch hoán đổi ngoại tệ với đối tác tại các quốc gia đang phát triển. Các tổ chức quốc tế có thể phối hợp thực hiện các biện pháp giảm nhẹ gánh nặng nợ cho các nước đối mặt với vấn đề dư địa tài khóa hạn chế và hệ số nợ công tăng.

Để nắm cơ hội và đạt được sự ổn định bền vững hơn, các quốc gia cần phải đầu tư vào con người – giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, ngăn chặn gia tăng nhanh chóng bất bình đẳng do hậu quả của khủng hoảng; hỗ trợ tăng trưởng xanh, bền vững, thân thiện với môi trường, bao gồm thông qua phân bổ hợp lý đầu tư công; tận dụng sự chuyển đổi số, dù thông qua sử dụng nhiều hơn các nền tảng chính phủ điện tử để nâng cao hiệu quả và minh bạch trong khi giảm các quy định bất hợp lý, tăng đào tạo trực tuyến, làm việc từ xa./.

ThS. Trần Trọng Triết