Thứ năm, 14/07/2022 10:57 (GMT+7)

Cởi mở tiếp thu nhiều ý kiến đóng góp cho Luật Giao dịch điện tử sửa đổi

Trần Thuỳ

Dự kiến văn bản trên sẽ ảnh hưởng đến tất cả các tổ chức, doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp đang và có kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động và giao dịch của mình; doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử; doanh nghiệp vận hành nền tảng số…  

 

Dự thảo Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi) đang được Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì soạn thảo và lấy ý kiến hoàn thiện. Dự thảo sửa đổi, bổ sung nhiều quy định như giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu; chứng thư điện tử; chữ ký điện tử; giao kết hợp đồng điện tử; dịch vụ tin cậy; các quy định quản lý hoạt động của nền tảng số… 


Để góp phần bảo đảm tính hợp lý, khả thi của quy định, bảo đảm quyền và lợi ích của các doanh nghiệp chịu sự tác động, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức Hội thảo góp ý Dự thảo Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi).
 

Hội thảo góp ý Dự thảo Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi). Ảnh: Trần Thuỳ
Hội thảo góp ý Dự thảo Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi). Ảnh: Trần Thuỳ


Các chính sách chủ yếu của Luật Giao dịch điện tử sửa đổi 


Tại Hội thảo, ông Nguyễn Trọng Đường - Phó Vụ trưởng phụ trách điều hành, Vụ Quản lý doanh nghiệp, Bộ Thông tin và Truyền thông đã trình bày nội dung cơ bản của Dự thảo Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi). 


Thứ nhất: Quy định về mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật Giao dịch điện tử: bao gồm tất cả các lĩnh vực của đời sống, kinh tế, xã hội.


Thứ hai: Quy định đảm bảo giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu: Sửa đổi, chi tiết hoá cách thức xác định giá trị pháp lý của thông điệp giữ liệu; bổ sung quy định điều kiện đảm bảo giá trị pháp lý khi chuyển đổi giữa bản giấy và thông điệp dữ liệu và ngược lại; quy định về chứng thư điện tử, đưa một giao dịch lên trực tuyến toàn hình.


Thứ ba: Quy định bảo đảm giá trị pháp lý của chữ ký điện tử: Sửa đổi, đưa ra 3 cấp độ của chữ ký điện tử; bổ sung quy định về chữ ký điện tử chuyên dùng trong cơ quan nhà nước; quy định về kết nối kỹ thuật để đảm bảo cho việc kiểm tra hiệu lực chữ ký điện tử.


Thứ tư: Quy định đảm bảo giá trị pháp lý của tài khoản giao dịch: Bổ sung mới quy định về tài khoản giao dịch; đưa ra 3 cấp độ tin cậy của tài khoản giao dịch.


Thứ năm: Quy định đảm bảo giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử: Sửa đổi, chi tiết hoá giao kết hợp đồng trên môi trường điện tử; các nội dung khác cơ bản giữ nguyên như Luật 2005.


Thứ sáu: Quy định về dịch vụ tin cậy: Dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử dịch vụ chứng thực (cấp dấu) thời gian; dịch vụ chứng thực thông điệp dữ liệu (thông điệp, hợp đồng, chứng thư).


Thứ bảy: Quy định về giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước và chính sách hỗ trợ giao dịch điện tử: giao dịch điện tử trong cơ quan nhà nước, quy định cơ quan nhà nước phải sẵn sàng toàn bộ trong hoạt động trên môi trường số; quy định chính sách thực hiện giao dịch điện tử có thời gian xử lý nhanh hơn, chi phí thấp hơn (phí, lệ phí) giao dịch theo cách truyền thống.


Thứ tám: Quy định về an toàn, an ninh, bảo vệ, bảo mật trong giao dịch điện tử: Dẫn chiều đồng bộ với Luật An toàn thông tin mạng 2015 và Luật An ninh mạng 2018; an toàn dữ liệu trong giao dịch điện tử.


Thứ chín: Quy định về hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử, nền tảng số, dữ liệu số. Trong đó, quy định về dữ liệu số: Bổ sung quy định về dữ liệu, kết nối, chia sẻ dữ liệu của cơ quan nhà nước. Quy định về hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử và nền tảng số: Bổ sung khái niệm hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử và nền tảng số; quy định trách nhiệm của chủ quản nền tảng số, doanh nghiệp viễn thông, internet, điện toán đám mây; giám sát của cơ quan nhà nước; bảo vệ giao dịch điện tử.
 

Ông Nguyễn Trọng Đường - Phó Vụ trưởng phụ trách điều hành, Vụ Quản lý doanh nghiệp, Bộ Thông tin và Truyền thông. Ảnh: Trần Thuỳ
Ông Nguyễn Trọng Đường - Phó Vụ trưởng phụ trách điều hành, Vụ Quản lý doanh nghiệp, Bộ Thông tin và Truyền thông. Ảnh: Trần Thuỳ


Một số góp ý các doanh nghiệp, hiệp hội, chuyên gia, cơ quan quản lý nhà nước


Ông Phạm Đức Tiến - Giám đốc Marketing, Công ty Cổ phần phát triển nguồn mở Việt Nam


Tại Chương V: Giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước, Điều 47 về Dữ liệu mở, ông Phạm Đức Tiến đề nghị bổ sung như sau:


Bổ sung khái niệm “Dữ liệu mở”, đồng thời phân loại rõ dữ liệu mở nói chung và dữ liệu mở của cơ quan nhà nước;


Bổ sung nội dung quy định về giấy phép sử dụng và quyền tương ứng cho dữ liệu mở để doanh nghiệp và người dân dễ dàng sử dụng, khai thác dữ liệu mở của cơ quan nhà nước và phát triển kinh tế số;


Bổ sung thêm điều mới, quy định việc thúc đẩy dữ liệu mở của cơ quan nhà nước, có lộ trình cấp phép và ban hành dữ liệu mở rõ ràng. Ví dụ như việc yêu cầu tất cả cơ quan nhà nước đều phải lập danh mục và phân loại dữ liệu mở của cơ quan mình. Từ đó sẽ tạo ra được dữ liệu mở mang tính hệ thống, phân loại chặt chẽ theo từng lĩnh vực, ngành nghề theo các quyền để sử dụng dữ liệu đó. Điều này sẽ giúp thúc đẩy dữ liệu mở phát triển và toàn dân có thể dễ dàng khai thác, ứng dụng dữ liệu mở vào phát triển kinh tế;


Bổ sung nội dung quy định cơ quan quản lý nhà nước cần đảm bảo năng lực hoạt động hệ thống, cổng thông tin của cơ quan mình, không được cấm người dân và doanh nghiệp truy cập các dữ liệu công khai, dữ liệu mở bằng bất cứ hình thức nào.


Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ tại Hà Nội (AmCham)


Điều 15.2 quy định về chuyển đổi hình thức từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy.


Hiệp hội cho biết, thông thường khi chuyển đổi/in thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy, có nhiều thông tin không được thể hiện trên văn bản giấy. Để tuân thủ điều này, doanh nghiệp sẽ phải thực hiện cải tiến hệ thống, điều này sẽ tốn rất nhiều thời gian và chi phí. Theo chúng tôi, việc có chữ ký của người được uỷ quyền và con dấu của công ty là đủ để đảm bảo rằng các văn bản hợp lệ. Hơn nữa, Bộ TT&TT đang quy định phải có con dấu của cơ quan, trong khi Luật Doanh nghiệp đang tuân theo tinh thần bỏ con dấu của doanh nghiệp.


Hiệp hội khuyến nghị làm rõ những điểm trên và cho phép rằng chữ lý của người được uỷ quyền và con dấu của công ty là đủ để đảm bảo rằng một tài liệu hợp lệ. 


Chương III Mục 4 về Chữ ký điện tử cho thấy, giá trị pháp lý của chữ ký điện tử nên phụ thuộc vào giá trị của nó trong việc xác nhận giao dịch của các bên, không phụ thuộc vào độ tin cậy của chữ ký điện tử, trừ khi có quy định khác. Do đó, các tổ chức tài chính nên được cho phép tự quyết định chữ ký điện tử của mình, với mức độ tin cậy dựa trên bản chất giao dịch của ngân hàng với khách hàng thay vì dựa vào Mức độ tin cậy cấp độ 3.


Trên thực tế, toàn bộ các giao dịch ngân hàng đều thực hiện dưới hình thức văn bản, có nghĩa là toàn bộ giao dịch ngân hàng phải được thực hiện bằng chữ lý cấp độ 3 (có chứng thực bởi bên thứ 3). Đây là bước thụt lùi so với quy định về chữ ký điện tử tại Luật Giao dịch điện tử hiện tại.


Do đó nên cho phép các ngân hàng được tuân theo các tiêu chuẩn và quy định của riêng họ về chữ ký điện tử và đối tượng “dịch vụ tin cậy trong giao dịch điện tử” không áp dụng với ngành ngân hàng.


Hiệp hội khuyến nghị cho phép các tổ chức tài chính tự quyết định chữ ký điện tử theo mức độ tin cậy tuỳ thuộc vào tính chất giao dịch của ngân hàng với khách hàng…