hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Các vấn đề về nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụ, cơ chế chính sách và cả nội tại mỗi doanh nghiệp chế biến rau quả vẫn còn nhiều điều cần phải tháo gỡ…
Quy mô ngành chế biến rau quả
Tại Diễn đàn trực tuyến “Đa dạng hóa sản phẩm rau quả chế biến, bảo quản gắn với yêu cầu của thị trường tiêu thụ” vừa được tổ chức ngày 7/7, ông Ngô Quang Tú đại diện Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT) nêu rõ, công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản nằm trong Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (đóng góp khoảng 17% GDP cả nước; 6 tháng đầu năm 2022, tăng 9,66%, đóng góp 2,58 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế).
Với ngành chế biến rau quả, hiện nay cả nước có trên 157 cơ sở (Miền Bắc: 50,3%, Miền Trung và Tây Nguyên: 12,1%, Đông Nam Bộ: 22,3%, ĐBSCL: 15,3%) với công suất chế biến đạt gần 1,1 triệu TSP/năm.
Các địa phương nổi bật gồm có: Sơn La, Bắc Giang, Ninh Bình, Gia Lai, Tây Ninh, Lâm Đồng, Đồng Nai, Long An, Tiền Giang, Bến Tre…
Tỷ trọng giá trị sản phẩm rau quả chế biến xuất khẩu so với giá trị xuất khẩu rau quả chung: Năm 2017: 12,8%; Năm 2018: 12,9%; Năm 2019: 15,1%; Năm 2020: 16,5% và ước năm 2020 là 18%.
Những nút thắt cần tháo gỡ
Về nguyên liệu: tình trạng thiếu nguyên liệu vẫn xảy ra (nguyên liệu mới đáp ứng 50-60% công suất chế biến), nguyên nhân là do diện tích canh tác nhỏ lẻ, phân tán, không đồng nhất; chế biến theo mùa mụ (2-3 tháng/năm).
Bên cạnh đó, chất lượng an toàn thực phẩm chưa đảm bảo (không đều, không ổn định, kích thước, mùi vị, màu sắc, dinh dưỡng...). Một số loại rau quả giá thành còn cao...
Về nội tại doanh nghiệp chế biến rau quả: thiếu vốn sản xuất, quy mô vốn rất nhỏ (hơn 80% số cơ sở dưới 2 tỷ đồng). Khó khăn về mặt bằng sản xuất, không được ưu tiên về mặt bằng sản xuất; bảo quản sau thu hoạch kém, thiếu thiết bị tối thiểu (điện, nước, kho lạnh...), dẫn tới tổn thất sau thu hoạch hơn 20%; brình độ quản lý và tay nghề thấp...
Ảnh minh hoạ
Về thị trường tiêu thụ: sản phẩm chế biến càng sâu thì thị trường tiêu thụ càng hẹp; thói quen tiêu dùng (rau quả sử dụng vẫn là sử dụng tươi, đặc biệt khu vực nông thôn, người thu nhập thấp.
Đồng thời còn nhiều rào cản xuất khẩu (quy định ngặt nghèo về dư lượng kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất bảo quản, thuế, điều kiện lao động, môi trường, truy xuất nguồn gốc); chi phí logistics cao (vận tải, xếp dỡ, bán lẻ... chiếm từ 35-50% giá xuất, giá bán cao khó cạnh tranh và chưa phù hợp với thu nhập người dân).
Về cơ chế chính sách: mức hỗ trợ thấp trong khi thủ tục phức tạp; chỉ khoảng 30% doanh nghiệp có khả năng tiếp cận vốn ngân hàng; nguồn lực triển khai chính sách hạn chế; lãi suất vay chưa phù hợp với 80% doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trên cơ sở đó, ông Ngô Quang Tú đề xuất 4 giải pháp như sau:
Thứ nhất: Tổ chức sản xuất nguyên liệu
Đối với địa phương, cần đẩy mạnh liên kết sản xuất theo chuỗi để đảm bảo nguyên liệu cho chế biến (số lượng, chất lượng, giá cả,…).
Bộ NN&PTNT cần nghiên cứu, ban hành văn bản quy phạm pháp luật quản lý liên kết chuỗi (tính pháp lý, ràng buộc, có chế tài xử lý…); có quy định điều phối các hoạt động liên kết (liên kết cụm, vùng, liên kết ngành,…).
Thứ hai: Nâng cao năng lực chế biến, bảo quản
Bộ NN&PTNT tiếp tục chủ trì và phối hợp với các cơ quan, địa phương đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư vào sản xuất nông nghiệp và chế biến, bảo quản nông sản (giới thiệu, mời gọi đầu tư, tư vấn khởi nghiệp,…). Thành lập sàn giao dịch công nghệ để kết nối cung cầu, giao lưu, mua bán, trao đổi công nghệ,…
Trong khi đó, các địa phương cũng cần đặc biệt ưu tiên, ưu đãi các dự án chế biến nông sản.
Thứ ba: Hoàn thiện thể chế chính sách
Tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách đã ban hành (Luật hỗ trợ DN vừa và nhỏ, các Nghị định 55, 57, 98,…); Ban hành cơ chế, chính sách “đột phá” cho lĩnh vực chế biến nông sản (thuận lợi về đất đai, ưu đãi về vốn, công nghệ, tạo lập môi trường thông thoáng,… ); Nghiên cứu ban hành Nghị định riêng về chế biến nông sản; gắn chế biến với sản xuất nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm.
Thứ tư: Phát triển thị trường sản phẩm chế biến
Đối với thị trường xuất khẩu: cần hỗ trợ doanh nghiệp xúc tiến thương mại các sản phẩm mang nhãn mác, thương hiệu Việt Nam.
Đặc biệt cần coi trọng hơn nữa thị trường tiêu nội địa (gần 100 triệu dân), hình thành các Trung tâm dịch vụ logistics nông sản tại các vùng, trung tâm sản xuất lớn và đầu mối giao thông xuất nhập khẩu