hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Trong 2 phương án quy định về thời hạn sở hữu nhà chung cư gồm: Phương án 1 là sở hữu có thời hạn theo niên hạn sử dụng công trình, phương án 2 là thời hạn sở hữu được xác định theo thời hạn sử dụng đất (như hiện nay), Bộ Xây dựng đề xuất lựa chọn phương án 1.
2 phương án quy định về thời hạn sở hữu nhà chung cư
Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến của nhân dân đối với dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi). Trong đó, Bộ đề xuất 2 phương án quy định về thời hạn sở hữu nhà chung cư.
Phương án 1: Bổ sung quy định mới về thời hạn sở hữu nhà chung cư được xác định căn cứ vào thời hạn sử dụng công trình theo quy định của pháp luật xây dựng.
Một là thời hạn sở hữu nhà chung cư được áp dụng đối với các loại nhà chung cư, bao gồm nhà chung cư thương mại, nhà chung cư xã hội, nhà chung cư tái định cư, nhà chung cư công vụ.
Hai là thời hạn sở hữu nhà chung cư được xác định theo thời hạn sử dụng của công trình nêu trong hồ sơ thiết kế công trình nhà chung cư được cơ quan có thẩm quyền thẩm định và được tính từ khi nghiệm thu toàn bộ công trình nhà chung cư đưa vào sử dụng theo quy định của pháp luật về xây dựng.
Khi thẩm định hồ sơ thiết kế công trình nhà chung cư, cơ quan có thẩm quyền thẩm định phải ghi rõ thời hạn sử dụng nhà chung cư trong hồ sơ thiết kế. Thời hạn sở hữu nhà chung cư quy định tại khoản 2 phải được ghi rõ trong hợp đồng mua bán, thuê mua căn hộ hoặc diện tích khác trong nhà chung cư.
Thời hạn sở hữu nhà chung cư quy định tại khoản 2 được áp dụng đối với công trình nhà chung cư được cấp Giấy phép xây dựng hoặc có văn bản thẩm định thiết kế triển khai sau thiết kế cơ sở (đối với trường hợp miễn Giấy phép xây dựng) sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Các nhà chung cư được cấp Giấy phép xây dựng hoặc có văn bản thẩm định thiết kế triển khai sau thiết kế cơ sở (đối với trường hợp miễn Giấy phép xây dựng) trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được sở hữu không có thời hạn theo quy định của pháp luật trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Trường hợp nhà chung cư hết thời hạn sở hữu nhưng vẫn còn đủ điều kiện tiếp tục được sử dụng theo kết luận kiểm định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thì chủ sở hữu đề nghị cơ quan cấp Giấy chứng nhận gia hạn thời hạn sở hữu trong Giấy chứng nhận theo thời hạn nêu trong kết luận kiểm định.
Trường hợp nhà chung cư hết thời hạn sở hữu nhưng phải phá dỡ theo kết luận kiểm định của cơ quan có thẩm quyền thì chấm dứt quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với căn hộ nhà chung cư và thực hiện xử lý như sau:
Đối với trường hợp theo quy hoạch được phê duyệt vẫn tiếp tục xây dựng lại nhà chung cư thì thực hiện phá dỡ để xây dựng lại theo quy định tại Chương V của Luật này.
Còn trường hợp theo quy hoạch được phê duyệt không tiếp tục xây dựng lại nhà chung cư thì chủ sở hữu được bồi thường về đất và bố trí tái định cư theo quy định của pháp luật về đất đai.
Phương án 2: Giữ nguyên như quy định hiện hành, không quy định thời hạn sở hữu nhà chung cư, người mua nhà chung cư được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài. Việc xử lý các tình huống cụ thể của nhà chung cư theo phương án này được thực hiện theo quy định hiện hành (Nghị định số 69/2021/NĐ-CP) và nay được cụ thể hóa tại Chương V của Luật này.
Cơ sở lựa chọn phương án 1
Nói về cơ sở để đưa ra phương án 1, Bộ Xây dựng lý giải: nhà chung cư là công trình đặc biệt, nơi tập trung đông người. Theo thời gian sử dụng công trình sẽ bị xuống cấp, không còn bảo đảm an toàn trong quá trình sử dụng.
Nếu có sự cố xảy ra sẽ ảnh hưởng đến tính mạng, tài sản của lượng lớn người dân, thậm chí có thể nói là thảm hoạ. Do đó, Nhà nước phải có giải pháp đảm bảo an toàn cho người dân.
Khi vòng đời của nhà chung cư không còn (do đã bị phá dỡ) thì quyền sở hữu của các chủ sở hữu đối với nhà chung cư này cũng sẽ chấm dứt do tài sản được ghi nhận quyền sở hữu không còn trên thực tế.
Vậy nên đề xuất trên cũng phù hợp với quy định của pháp luật về dân sự: quyền sở hữu tài sản sẽ bị chấm dứt khi tài sản bị tiêu hủy hoặc bị chấm dứt theo quy định của luật, Bộ Xây dựng lý giải.
Ngoài ra, trên thực tế, công tác cải tạo chung cư cũ trong thời gian qua rất khó. Nhiều trường hợp nhà chung cư đã hết niên hạn sử dụng, chất lượng bị xuống cấp nghiêm trọng, ảnh hưởng đến tính mạng, tài sản người dân nhưng rất khó khăn trong việc di dời, phá dỡ để xây dựng lại. Vì thế, phải xác định sở hữu theo thuộc tính của công trình mới có thể đẩy nhanh công tác cải tạo khi nhà chung cư không thể tiếp tục sử dụng. Điều này cũng là để đảm bảo quyền lợi, sự an toàn của cư dân chứ không phải “đẩy họ ra đường” như nhiều ý kiến lo ngại hiện nay”.
Về thời hạn sở hữu căn hộ, trong dự thảo Luật không quy định cụ thể là bao lâu mà tùy theo từng cấp công trình. Với nhà chung cư xây cấp 1 (cao 20-50 tầng, tương đương 70-200m), thời hạn sử dụng là trên 100 năm; Cấp 2 là 50- 100 năm; cấp 3: 20 – dưới 50 năm… Trên thực tế, các chung cư tại các khu đô thị mới thường được xây dựng theo cấp 1, vòng đời rất là cao, chứ không phải 50-70 năm như nhiều thông tin phản ánh.