Thứ ba, 13/08/2024 00:00 (GMT+7)

Bình Dương đặt mục tiêu giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản của năm 2024 đạt 15,2 tỷ USD

Lê Phượng

Thông tin tại Hội nghị giao ban báo chí và thông tin về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và tháng 7 năm 2024, đại diện UBND Bình Dương - cho biết: Trong 7 tháng năm 2024, các ngành lĩnh vực kinh tế Bình Dương tiếp tục đà hồi phục và đạt nhiều kết quả tích cực trên hầu hết các lĩnh vực.

Gỗ là mặt hàng xuất khẩu chủ lực

 

Cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 7 tháng tăng 5,63% so với cùng kỳ, trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,5% so với với cùng kỳ năm 2023.

 

Về lĩnh vực thương mại dịch vụ: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 195 ngàn tỷ đồng, tăng 13% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt đạt 130.730 tỷ đồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành đạt gần 17.300 tỷ đồng, tăng 8,3% so với cùng kỳ.

 

Xuất nhập khẩu cũng là điểm sáng trong bức tranh kinh tế của Bình Dương. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 7 tháng năm 2024 của Bình Dương đạt gần 18,9 tỷ USD, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2023; kim ngạch nhập khẩu đạt 13,5 tỷ USD, tăng 10,6%; thặng dư thương mại đạt 5,4 tỷ USD.

 

Sản xuất đồ gỗ nội thất tại Công ty TNHH Hiệp Long (TP.Thuận An). Nguồn: Báo Bình Dương
Sản xuất đồ gỗ nội thất tại Công ty TNHH Hiệp Long (TP.Thuận An). Nguồn: Báo Bình Dương

 

Đáng chú ý, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Bình Dương trong 7 tháng năm 2024 lấy lại đà tăng trưởng và tăng trưởng ấn tượng so với cùng kỳ năm 2023. Đơn cử ngành gỗ, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 3,5 tỷ USD tăng 21,8% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 18,7% kim ngạch xuất khẩu cả tỉnh. Trong đó, thị trường chủ yếu là Mỹ chiếm 71,11% tổng số, tăng 26,6% so với cùng kỳ; thị trường châu Âu chiếm 13,3%, tăng 10%; Canada chiếm 2,4%, tăng 9,2%; Hàn Quốc chiếm 1,8%, tăng 8,2%...

 

Ông Triệu Văn Lực - Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) cho biết, với tín hiệu phục hồi tích cực của thị trường, đặc biệt là đối với một số sản phẩm xuất khẩu chính đều tăng như dăm gỗ (tăng gần 38%), gỗ và sản phẩm gỗ (tăng trên 20%) so với cùng kỳ năm 2023.

 

Lũy kế giá trị xuất, nhập khẩu gỗ và lâm sản 7 tháng đầu năm 2024 đạt cao hơn so với cùng kỳ năm 2023. Cụ thể, giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản ước đạt 9,361 tỷ USD, đạt 61,5% kế hoạch năm, tăng 20,5 % so với cùng kỳ năm 2023; trong đó, sản phẩm gỗ đạt 5,967 tỷ USD, tăng 22,2 %; gỗ đạt 2,785 tỷ USD, tăng 20,9%; lâm sản ngoài gỗ đạt 609 triệu USD, tăng 4,6%.

 

Nhiều thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng cao như: Thị trường Hoa Kỳ, kim ngạch xuất khẩu đạt 5,019 tỷ USD, tăng 24%; Trung Quốc đạt 1,22 tỷ USD, tăng 37,92%; châu Âu (EU) đạt 555 triệu USD, tăng 22,44%.

 

Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 3,99 tỷ USD, tăng 22,3%, doanh nghiệp trong nước đạt 5,371 tỷ USD, tăng 19,2%. Giá trị nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 1,504 tỷ USD, tăng 22,3 % so với năm 2023. Giá trị xuất siêu toàn ngành ước đạt 7,857 tỷ USD.

 

Cần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngành gỗ

 

Mặc dù có nhiều tín hiệu khả quan nhưng ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cũng cho rằng các doanh nghiệp xuất khẩu đang phải đối mặt với nhiều vụ kiện phòng vệ thương mại liên tiếp; trong đó, Hoa Kỳ đã tiến hành ba vụ kiện liên quan đến ngành gỗ. Thêm vào đó, với việc Hoa Kỳ chưa công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ tiếp tục bị phân biệt đối xử trong các cuộc điều tra chống bán phá giá, gây áp lực lớn lên chi phí và biên lợi nhuận.

 

Tại thị trường EU, Quy chế Chống mất rừng (EUDR) của Liên minh châu Âu dự kiến sẽ có hiệu lực vào tháng 12/2024, đặt ra nhiều thách thức cho doanh nghiệp xuất khẩu gỗ khi phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về nguồn gốc sản phẩm và các yếu tố liên quan đến môi trường. Đồng thời, Đức cũng đã áp dụng Luật Nghĩa vụ thẩm định doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, yêu cầu các nhà xuất khẩu phải cung cấp thêm nhiều chứng nhận liên quan đến lao động và môi trường, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

 

Thị trường Đông Bắc Á, bao gồm Hàn Quốc và Nhật Bản, cũng đã áp dụng các biện pháp mới làm tăng chi phí và rủi ro cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Hàn Quốc quyết định tiếp tục áp thuế chống bán phá giá đối với gỗ dán của Việt Nam, trong khi Nhật Bản đang triển khai hệ thống mua bán tín chỉ các-bon, yêu cầu tuân thủ các quy định khắt khe về khí thải đối với các sản phẩm gỗ.

 

Trước những khó khăn này, ông Lập cho rằng, giải pháp của ngành gỗ Việt Nam hiện tại và trong thời gian tới cần tập trung vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên năm trụ cột chính kỹ thuật, công nghệ sản xuất, giảm phát thải, quản trị (chuyển đổi số), xúc tiến thương mại và xây dựng tiêu chuẩn giám sát nội bộ.

 

Ngành gỗ cũng kiến nghị và phối hợp với các bộ, ngành để hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với các vụ điều tra thương mại từ Hoa Kỳ; cập nhật thông tin chính sách từ các thị trường xuất khẩu trọng điểm; đề xuất tăng cường xúc tiến thương mại và hỗ trợ phòng cháy chữa cháy (PCCC) cho các nhà máy chế biến gỗ; và quản lý hội chợ chuyên ngành, xây dựng các hội chợ tầm quốc tế.

 

Bên cạnh đó, phát triển bền vững ngành gỗ cũng là một yếu tố then chốt. Đồng thời, quản lý nguồn gốc gỗ và phát triển chứng chỉ rừng bền vững, điều tiết logistics để giảm thiểu chi phí vận chuyển, đồng thời hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện cam kết Net Zero vào năm 2050 và giảm thiểu phát thải.