Chủ nhật, 08/09/2024 15:52 (GMT+7)

Bắc Giang: Thực hiện chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021- 2025

Vương Hưởng

  Nhằm triển khai việc thực hiện Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021-2025 được đồng bộ, kịp thời, thống nhất và hiệu quả. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang ban hành Kế hoạch số 522-KH-UBND thực hiện Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững tỉnh Bắc Giang, giai đoạn 2021-2025.

 

Trồng rừng đã trở thành nghề chính và thực sự trở thành cây trồng giúp người dân vươn lên thoát nghèo và làm giàu
Trồng rừng đã trở thành nghề chính và là điểm tựa giúp người dân vươn lên thoát nghèo

 

Mục đích kế hoạch

 

- Cụ thể hóa các nhiệm vụ, định hướng và giải pháp thực hiện Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững; xây dựng các nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch đảm bảo chất lượng, hiệu quả, đồng bộ, kịp thời và thống nhất.

 

- Đảm bảo thực hiện có hiệu quả Kế hoạch thực hiện Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững trên địa bàn tỉnh, phát triển kinh tế lâm nghiệp nhanh, bền vững trên cơ sở quản lý, bảo vệ phát triển, sử dụng bền vững rừng và diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp; ứng dụng khoa học và công nghệ hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị từng loại rừng, tăng giá trị rừng sản xuất trên đơn vị diện tích; góp phần đáp ứng các yêu cầu về giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu; thu hút nguồn lực đầu tư vào lâm nghiệp; tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống cho người dân làm nghề rừng, đảm bảo an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội.

 

Yêu cầu kế hoạch

 

- Việc xây dựng và tổ chức thực hiện Kế hoạch phải đảm bảo đầy đủ nội dung, cụ thể hóa các định hướng và giải pháp thực hiện đến các cơ quan, đơn vị, UBND các huyện, thành phố, các tổ chức, đơn vị liên quan nhằm tạo đồng thuận và quyết tâm cao trong triển khai, thực hiện.

 

- Trên cơ sở nội dung định hướng, giải pháp của Kế hoạch này, các cơ quan, đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, chính quyền địa phương các cấp tổ chức thực hiện hiệu quả nhằm góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, định hướng, giải pháp đã đặt ra.

 

- Đôn đốc, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ, chương trình, dự án, đề án thực hiện Kế hoạch đảm bảo hiệu quả, thường xuyên.

 

Với mục tiêu triển khai

 

Phát triển lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang thực sự trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, liên kết theo chuỗi từ phát triển rừng, bảo vệ rừng, sử dụng rừng đến chế biến và thương mại lâm sản; quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững diện tích rừng và diện tích đất quy hoạch cho phát triển lâm nghiệp; phát huy tiềm năng, vai trò và tác dụng của rừng để đóng góp ngày càng quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội; góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học các hệ sinh thái rừng, tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu tác động tiêu cực do thiên tai, giảm phát thải khí nhà kính, hấp thụ, lưu giữ các-bon từ rừng; góp phần bảo vệ quốc phòng, an ninh, cụ thể:

 

- Tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân đạt 5%/năm.

 

- Thực hiện cơ cấu 3 loại rừng theo Quy hoạch lâm nghiệp tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 219/QĐ-TTg ngày 17/02/202; đến năm 2025, diện tích quy hoạch 3 loại rừng toàn tỉnh khoảng 142.465 ha, trong đó: Rừng đặc dụng khoảng 13.688 ha, rừng phòng hộ khoảng 20.599 ha, rừng sản xuất khoảng 108.178 ha, theo hướng giảm diện tích rừng sản xuất, tăng diện tích rừng đặc dụng, phòng hộ, đảm bảo phát huy hiệu quả chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái và đa dạng sinh học, góp phần giảm thiểu tác hại do thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 37,5%.

 

- Ổn định vùng rừng nguyên liệu tập trung khoảng 80 nghìn ha (chiếm 74% tổng diện tích đất rừng sản xuất); hàng năm trồng khoảng 8.000 ha rừng trồng tập trung và khoảng 6 triệu cây phân tán, trong đó diện tích rừng trồng gỗ lớn chiếm 30% diện tích rừng trồng hàng năm; lũy kế đến năm 2025, diện tích rừng trồng gỗ lớn đạt 17.000 ha, diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (do tổ chức quốc tế FSC hoặc Văn phòng chứng chỉ rừng Việt Nam cấp) đạt 12.500 ha; đến năm 2025, năng suất bình quân rừng trồng sản xuất đạt khoảng 22 m3/ha/năm, sản lượng gỗ khai thác đạt 1,0 triệu m3 , trong đó 40% sản lượng gỗ khai thác rừng trồng được đưa vào chế biến sâu phục vụ xuất khẩu.

 

- Phát triển dịch vụ môi trường rừng, đa dạng hóa và mở rộng các nguồn thu phù hợp với quy định của pháp luật; tổng thu tiền dịch vụ môi trường rừng giai đoạn 2021-2025 tăng 20% so với năm 2020.

 

- Phát triển kinh tế lâm nghiệp, trong đó phát triển công nghiệp chế biến và lâm sản ngoài gỗ, công nghiệp phụ trợ, sản phẩm mới có giá trị tăng cao; giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản đến năm 2025 đạt khoảng 3.500 tỷ.

 

- Nâng cao đời sống của người dân làm nghề rừng, phấn đấu đến năm 2025 mức thu nhập bình quân của người dân tộc làm nghề rừng tăng 1,5 lần so với năm 2020.

 

Nhân rộng mô hình “Rừng cây thanh niên lập nghiệp”

 

Bắc Giang có hơn 161 nghìn ha rừng, tỷ lệ độ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 37,8%. Trong đó, diện tích đất lâm nghiệp tập trung chủ yếu ở các huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Thế. Khai thác lợi thế đó, Tỉnh đoàn triển khai mô hình "Rừng cây thanh niên lập nghiệp" nhằm phát huy vai trò của tuổi trẻ trong bảo vệ môi trường, tạo sinh kế cho thanh niên vùng khó khăn. Mô hình là hoạt động thiết thực hưởng ứng chương trình “Vì một Việt Nam xanh” do T.Ư Đoàn phát động, Đề án “Trồng một tỷ cây xanh” giai đoạn 2021-2025 của Chính phủ.

 

Theo đó, các cấp bộ đoàn trong tỉnh đặt mục tiêu trồng mới ít nhất 1 triệu cây xanh. Đối tượng hưởng lợi là đoàn viên thanh niên (ĐVTN) tại các địa bàn vùng núi, thuộc hộ nghèo, cận nghèo, hoàn cảnh khó khăn, dân tộc thiểu số. Từ nguồn xã hội hóa, ĐVTN được hỗ trợ về giống cây trồng, phân bón và chuyển giao kỹ thuật chăm sóc cây trồng.

 

Hiện nay, toàn tỉnh có 85 mô hình “Rừng cây thanh niên lập nghiệp”. Theo anh Bùi Văn Hoàng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh đoàn, tính riêng tháng 4/2024, từ nguồn ngân sách nhà nước, Tỉnh đoàn đã trao hơn 191 nghìn cây giống (keo, bạch đàn) tới các tổ chức đoàn nhằm phủ xanh 120 ha đất trống, đồi trọc. Qua đó, xây dựng mới, tặng thêm cây giống cho 20 mô hình “Rừng cây thanh niên lập nghiệp”.

 

Để phát huy hiệu quả mô hình "Rừng cây thanh niên lập nghiệp", thời gian tới, Tỉnh đoàn tiếp tục chỉ đạo đoàn các cấp rà soát, lập danh sách các hộ gia đình, ĐVTN có nhu cầu, khả năng và điều kiện trồng rừng sản xuất. Đồng thời, vận động các nguồn lực hỗ trợ giống cây trồng, phân bón cho thanh niên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; tổ chức tham quan mô hình kinh tế, hướng dẫn quy trình, chuyển giao kỹ thuật trồng rừng cho thanh niên.

 

Lợi ích lớn từ trồng rừng kinh tế

 

Cứ mỗi 01ha rừng kinh tế trồng bạch đàn, keo lai thâm canh trong khoảng 5 đến 7 năm tuổi sẽ cho thu nhập bình quân từ 100 đến 150 triệu đồng/ha. Hiệu quả kinh tế từ trồng rừng đã được khẳng định, không chỉ tạo sinh kế cho khu vực vùng sâu, vùng xa mà trồng rừng đã đem lại thu nhập ổn định, thực sự làm giàu cho người dân miền núi.

 

Trồng rừng đã trở thành nghề chính và là điểm tựa giúp người dân vươn lên thoát nghèo và làm giàu. Để trồng rừng đạt hiệu quả kinh tế cao, trong những năm qua tỉnh Bắc Giang đã có chủ trương đẩy mạnh phát triển sản xuất lâm nghiêp, tạo sinh kế cho người trồng rừng gắn bó với rừng. Ngoài việc thực hiện giao đất, giao rừng, nhà nước chú trọng đến sản xuất cây giống đảm bảo chất lượng, hỗ trợ cây giống, chuyển giao khoa học kỹ thuật, quy trình trồng, chăm sóc cây lâm nghiệp cho người dân.

 

Theo thống kê, toàn tỉnh có 130 cơ sở (trong đó có 14 doanh nghiệp) hàng năm sản xuất từ 30-38 triệu cây giống phục vụ trồng rừng; số cây có nguồn gốc xuất xứ chiếm khoảng 95% (nằm trong tốp 5 tỉnh dẫn đầu cả nước về tỷ lệ kiểm soát giống cây lâm nghiệp); số cây sản xuất bằng phương pháp nuôi cấy mô, giâm hom chiếm khoảng 76%, riêng cây mô chiếm 61% (tỷ lệ cây mô đều tăng hàng năm); nhiều giống phổ biến có năng suất cao như: Bạch đàn mô ĐH3229, U6; Keo mô AH1, BV10, Keo tai tượng hạt ngoại.

 

Năng suất bình quân rừng trồng ngày càng tăng, hiện đạt khoảng 20,8m3/ha/năm; nhiều diện tích rừng trồng Keo năng suất đạt 25-27 m3/ha/năm, Bạch đàn đạt 30-35 m3/ha/năm, cá biệt có diện tích đạt 40 m3/ha/năm.

 

Bên cạnh việc tập trung các điều kiện cho trồng rừng kinh tế, để nâng cao hơn nữa giá trị từ trồng rừng kinh tế, tỉnh Bắc Giang cũng đã chú trọng đến việc phát triển trồng rừng gắn với chế biến gỗ từ rừng trồng theo hướng bền vững và có giá trị gia tăng cao, chú trọng trồng rừng gỗ lớn gắn với chứng chỉ rừng quốc tế, đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật trong chăm sóc, thâm canh rừng để tạo ra nguồn nguyên liệu đảm bảo về số lượng, chất lượng đáp ứng thị trường chế biến, xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu lâm sản năm 2022 đạt khoảng 2.500 tỷ đồng.

 

Ngoài lợi ích kinh tế đạt được thì cá nhân doanh nghiệp tham gia phát triển rừng còn được hưởng chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng. Theo đó, ngày 23/5/2024, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Lê Ánh Dương vừa ký ban hành Quyết định số 480/QĐ-UBND Về việc phê duyệt diện tích, số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2023, kế hoạch chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng thu được năm 2023 và dự toán chi phí quản lý Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng năm 2024.

 

Tổng diện tích được chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2023 của tỉnh Bắc Giang là gần 17,2 nghìn ha với 5.130 chủ rừng. Trong số đó có 5.115 hộ gia đình cá nhân, 1 cộng đồng dân cư thôn, 3 UBND cấp xã và 11 chủ rừng là tổ chức trên địa bàn 22 xã, thị trấn của các huyện Yên Thế, Sơn Động và Lục Ngạn.

 

Tổng số tiền chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2023 cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh gần 3,4 tỷ đồng, theo từng lưu vực. Cụ thể, lưu vực đầu nguồn sông Thương thuộc huyện Yên Thế gần 2 tỷ đồng, tương ứng mức chi trả bình quân hơn 366 nghìn đồng/ha. Lưu vực hồ Cấm Sơn, huyện Lục Ngạn hơn 1 tỷ đồng, tương ứng hơn 117 nghìn đồng/ha. Lưu vực huyện Sơn Động gần 400 triệu đồng, mức chi trả bình quân hơn 132 nghìn đồng/ha.

 

Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Lê Ánh Dương yêu cầu Bưu điện tỉnh Bắc Giang tiếp nhận nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Bắc Giang và trực tiếp thanh toán đầy đủ cho các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn được nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng trên địa bàn các huyện: Sơn Động, Lục Ngạn và Yên Thế xong trước ngày 1/6/2024, đảm bảo kịp thời, công khai, minh bạch.

 

Sở NN - PTNT Bắc Giang có trách nhiệm chỉ đạo Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh thực hiện việc chi trả, quản lý, sử dụng tiền thu dịch vụ môi trường rừng của những năm tiếp theo đúng quy định hiện hành.

 

Ngày 24/5/2024, ông Từ Quốc Huy – giám đốc Qũy Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Bắc Giang đã ký Quyết định số 17/QĐ-QBVPTR-BĐH Quyết định thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2023, theo Quyết định số 480/QĐ-UBND Về việc phê duyệt diện tích, số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2023, kế hoạch chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng thu được năm 2023 và dự toán chi phí quản lý Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng năm 2024.

 

Quá trình chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cần được các cơ quan chức năng có thẩm quyền giám sát, kiểm tra nhằm đảm quyền và lợi ích của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp được thụ hưởng. Đặc biệt là quyền lợi của các cá nhân, tổ chức được nhận giao khoán diện tích rừng từ các doanh nghiệp theo mục d khoản 3 Điều 70.

 

❝Tiền dịch vụ môi trường rừng được trả cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp thực hiện theo Khoản 3 Điều 70 Nghị định 156/2018/NĐ-CP, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp 2017 và Nghị định 27/2024/ NĐ-CP  sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 156/2018/NĐ-CP các điểm b, c và d khoản 3 như sau:

 

“b) Chủ rừng là các doanh nghiệp: toàn bộ số tiền dịch vụ môi trường rừng nhận được là nguồn thu của doanh nghiệp, được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về tài chính đối với doanh nghiệp sau khi trừ chi phí cho các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng.

 

c) Chủ rừng là tổ chức không bao gồm điểm b khoản 3 Điều này không khoán bảo vệ rừng hoặc khoán một phần diện tích, toàn bộ số tiền nhận được tương ứng với diện tích rừng tự bảo vệ được sử dụng cho các hoạt động phục vụ công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của chủ rừng, bao gồm: xây dựng và thực hiện phương án quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng; đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; các hạng mục công trình lâm sinh, các công trình cơ sở kỹ thuật phục vụ công tác bảo vệ và phát triển rừng; các hoạt động tuần tra, truy quét các điểm nóng, xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng; mua sắm tài sản, công cụ, dụng cụ, duy tu bảo dưỡng, sửa chữa tài sản trang thiết bị phục vụ công tác bảo vệ rừng; lập hồ sơ, xây dựng bản đồ chi trả dịch vụ môi trường rừng, kiểm tra, giám sát, đánh giá, nghiệm thu, tuyên truyền, vận động, đào tạo, tập huấn, hội nghị và các hoạt động khác phục vụ công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng; chi trả lương và các khoản có tính chất lương (cho các đối tượng không hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong trường hợp ngân sách nhà nước không đảm bảo chi trả lương và các khoản có tính chất lương); các hoạt động khác phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

 

Số tiền dịch vụ môi trường rừng nhận được cho diện tích rừng tự bảo vệ sau khi trừ chi phí cho các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng là nguồn thu của chủ rừng, chủ rừng quản lý theo quy định pháp luật về tài chính phù hợp với loại hình tổ chức của chủ rừng.

 

d) Chủ rừng là tổ chức được quy định tại điểm c khoản 3 Điều này có khoán bảo vệ rừng cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư, kinh phí quản lý được trích 10% tổng số tiền dịch vụ môi trường rừng chi trả cho diện tích rừng khoán bảo vệ nêu trên để chi cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của chủ rừng, bao gồm: xây dựng và thực hiện phương án quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng, đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí, các hạng mục công trình lâm sinh, các công trình cơ sở kỹ thuật phục vụ công tác bảo vệ và phát triển rừng; các hoạt động tuần tra, truy quét các điểm nóng, xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; mua sắm tài sản, công cụ, dụng cụ, duy tu bảo dưỡng, sửa chữa tài sản trang thiết bị phục vụ công tác bảo vệ rừng; lập hồ sơ, xây dựng bản đồ chi trả dịch vụ môi trường rừng, kiểm tra, giám sát, đánh giá, nghiệm thu, tuyên truyền, vận động, đào tạo, tập huấn, hội nghị và các hoạt động khác phục vụ công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng; chi trả lương và các khoản có tính chất lương (cho các đối tượng không hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong trường hợp ngân sách nhà nước không đảm bảo chi trả lương và các khoản có tính chất lương); các hoạt động khác phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

 

Số tiền trích để chi cho công tác quản lý của chủ rừng sau khi trừ chi phí cho các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng được coi là nguồn thu của chủ rừng và được quản lý theo quy định pháp luật về tài chính phù hợp với loại hình tổ chức của chủ rừng.

 

Số tiền còn lại sau khi trích kinh phí quản lý được chủ rừng chi trả cho bên nhận khoán theo quy định tại khoản 3 Điều 69 Nghị định này.”.❞