Thứ ba, 27/10/2026 15:50 (GMT+7)

An Giang phát triển logistics, nâng giá trị nông sản

Minh Hương

An Giang định hướng phát triển logistics thành động lực nâng cao giá trị nông sản, thủy sản và sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu.

Theo Kế hoạch số 421/KH-UBND ban hành ngày 31/7/2026, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2035, dịch vụ logistics đóng góp khoảng 3–4% GRDP, hình thành 1–2 trung tâm logistics hiện đại và nâng tỷ lệ doanh nghiệp, hợp tác xã sử dụng dịch vụ logistics lên 50–60%. Định hướng này gắn với yêu cầu hoàn thiện hạ tầng giao thông, giảm chi phí vận chuyển và tổ chức lại chuỗi cung ứng hàng hóa.

Tháo gỡ điểm nghẽn, tăng kết nối chuỗi cung ứng

An Giang có các mặt hàng nông sản, thủy sản chủ lực như lúa gạo, cá tra và trái cây, đồng thời sở hữu lợi thế về hệ thống sông Tiền, sông Hậu và các cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, Vĩnh Xương. Tuy nhiên, chi phí vận chuyển, lưu kho và bảo quản còn cao; hạ tầng kho lạnh chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu, trong khi sự phối hợp giữa vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến và doanh nghiệp vận tải chưa đồng bộ. Những hạn chế này làm tăng giá thành, kéo dài thời gian giao hàng và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

Phát triển logistics được xác định là giải pháp tổ chức lại chuỗi cung ứng từ vùng sản xuất đến thị trường tiêu thụ và xuất khẩu. Hệ thống kho bãi, kho lạnh, dịch vụ sơ chế, phân loại và đóng gói cần được đầu tư đồng bộ nhằm hạn chế thất thoát sau thu hoạch, duy trì chất lượng nông sản, thủy sản trong quá trình vận chuyển và giảm chi phí lưu thông.

Bốc dỡ hàng hóa tại cảng Mỹ Thới. Ảnh: Báo An Giang

Việc tăng cường kết nối giữa hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến và đơn vị logistics cũng có ý nghĩa quan trọng. Khi thông tin về mùa vụ, sản lượng, nhu cầu kho bãi và lịch vận chuyển được chia sẻ hiệu quả, các bên có thể chủ động kế hoạch thu mua, bảo quản và giao hàng, hạn chế tình trạng nguồn cung phân tán hoặc phát sinh nhiều khâu trung gian.

Theo định hướng phát triển của tỉnh, logistics An Giang được tổ chức trên 3 trụ cột gồm logistics nông nghiệp, logistics cửa khẩu và logistics xuất khẩu quốc tế. Trong đó, cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên và Vĩnh Xương có vai trò kết nối hàng hóa giữa An Giang với Campuchia và các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Việc gắn trung tâm logistics với khu kinh tế cửa khẩu và khu vực tập trung sản xuất, tiêu thụ nông sản sẽ hỗ trợ hoạt động gom hàng, lưu kho và vận chuyển xuyên biên giới.

Hệ thống sông Tiền và sông Hậu tạo điều kiện khai thác vận tải đường thủy, kết hợp với đường bộ để tổ chức vận chuyển đa phương thức. Việc tăng cường kết nối bến bãi, điểm tập kết hàng hóa và các tuyến vận tải cần được triển khai đồng bộ nhằm giảm áp lực lên vận tải đường bộ, hạn chế bốc dỡ nhiều lần và rút ngắn thời gian giao nhận.

Về hạ tầng, Quyết định số 1494/QĐ-UBND ngày 24/4/2026 của UBND tỉnh An Giang phê duyệt Đề án hoàn thiện và nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông, logistics. Cùng với đó, tuyến cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng được kỳ vọng tăng khả năng kết nối các vùng sản xuất và khu kinh tế cửa khẩu với những đầu mối giao thông, cảng biển, qua đó mở rộng phương án vận chuyển hàng hóa xuất khẩu.

Để khai thác hiệu quả các tuyến kết nối này, địa phương cần phát triển đồng bộ dịch vụ gom hàng, kho lạnh, trung chuyển, vận tải đa phương thức và hỗ trợ thủ tục xuất nhập khẩu. Hạ tầng giao thông chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả khi được kết nối với hệ thống dịch vụ hậu cần đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.

Chuyển đổi số, hướng tới logistics xanh

Theo Kế hoạch số 421/KH-UBND, giai đoạn 2025–2035, An Giang đặt mục tiêu dịch vụ logistics đóng góp khoảng 3–4% GRDP, phát triển 1–2 trung tâm logistics hiện đại và nâng tỷ lệ doanh nghiệp, hợp tác xã sử dụng dịch vụ logistics lên 50–60%. Tỉnh phấn đấu có khoảng 60% doanh nghiệp logistics áp dụng các giải pháp số phù hợp, 60% lao động trong ngành được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, trong đó 20% có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên.

Tầm nhìn đến năm 2050, tỉnh định hướng phát triển 3–5 trung tâm logistics hiện đại, nâng tỷ trọng đóng góp của ngành lên 4–5% GRDP và đưa tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics lên 70–80%.

Để đạt các chỉ tiêu này, chuyển đổi số cần được triển khai trong quản lý kho bãi, điều phối phương tiện, theo dõi hàng hóa và tổ chức vận tải. Phần mềm tối ưu tuyến đường, hệ thống quản lý kho và công cụ chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị có thể hỗ trợ giảm thời gian chờ, hạn chế vận chuyển rỗng và kiểm soát chi phí. Đối với nông sản, thủy sản, việc kết nối thông tin giữa vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến, kho bảo quản và đơn vị vận chuyển còn giúp doanh nghiệp chủ động kế hoạch giao hàng, hạn chế hao hụt sau thu hoạch.

Cùng với chuyển đổi số, logistics xanh là hướng đi cần được chú trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu. Doanh nghiệp cần quan tâm đến phương tiện vận tải ít phát thải, kho lạnh tiết kiệm điện, bao bì có thể tái sử dụng và giải pháp giảm tiêu hao nhiên liệu. Việc theo dõi, đo lường và minh bạch dữ liệu môi trường cũng giúp doanh nghiệp đánh giá hiệu quả vận hành, từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn của đối tác quốc tế.

Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định hiệu quả vận hành hệ thống logistics. Bên cạnh nghiệp vụ vận tải và quản lý kho, người lao động cần được nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ, quản trị chuỗi cung ứng và phối hợp giữa các khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối. Doanh nghiệp cũng cần chủ động đào tạo nhân sự đáp ứng yêu cầu vận hành các hệ thống số và tổ chức vận tải đa phương thức.

Thu hút đầu tư vào hạ tầng logistics, nâng cao chất lượng nhân lực và tăng cường liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng sẽ quyết định khả năng hiện thực hóa định hướng của An Giang. Khi các điểm nghẽn về kho lạnh, vận tải và kết nối được tháo gỡ, logistics có thể góp phần giảm chi phí, bảo đảm chất lượng hàng hóa và nâng cao giá trị nông sản, thủy sản chủ lực của tỉnh.

An Giang trỗi dậy thành điểm đến đầu tư mới của Đồng bằng sông Cửu Long

An Giang trỗi dậy thành điểm đến đầu tư mới của Đồng bằng sông Cửu Long

Tăng trưởng kinh tế ấn tượng đang tạo ra không gian mới cho các nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội dài hạn tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó An Giang đang nổi lên như một “bệ phóng” đáng chú ý.
Khu công nghiệp An Giang giữ nhịp tăng trưởng, doanh thu vượt 18.000 tỷ đồng

Khu công nghiệp An Giang giữ nhịp tăng trưởng, doanh thu vượt 18.000 tỷ đồng

Năm 2025, các khu công nghiệp và khu kinh tế An Giang duy trì sản xuất ổn định, tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế địa phương.
An Giang định vị lại vai trò trung tâm thương mại biên giới trên tuyến Tây Nam

An Giang định vị lại vai trò trung tâm thương mại biên giới trên tuyến Tây Nam

Trong bức tranh liên kết kinh tế khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia, An Giang đang nổi lên như một điểm tựa quan trọng, nơi hạ tầng thương mại biên giới không chỉ phục vụ lưu thông hàng hóa mà còn từng bước trở thành nền tảng cho các chiến lược đầu tư dài hạn.
Hợp nhất An Giang và Kiên Giang: Tái cấu trúc hệ thống hạ tầng vùng từ một tầm nhìn chiến lược

Hợp nhất An Giang và Kiên Giang: Tái cấu trúc hệ thống hạ tầng vùng từ một tầm nhìn chiến lược

Chủ trương hợp nhất hai tỉnh An Giang và Kiên Giang không chỉ là một bước đi hành chính, mà là cơ hội mở ra một trục phát triển mới – hội tụ đủ yếu tố “núi – đồng bằng – biên giới – biển đảo”, tích hợp giữa kinh tế biên giới và kinh tế biển, đặt nền móng cho mô hình liên kết vùng kiểu mới ở Tây Nam Bộ.
An Giang: Tiềm năng đầu tư và chiến lược phát triển bền vững

An Giang: Tiềm năng đầu tư và chiến lược phát triển bền vững

An Giang là tỉnh có vị trí chiến lược tại miền Tây Nam Bộ, đang nỗ lực để trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, tỉnh đã đưa ra hơn 60 dự án trọng điểm, tập trung vào 6 lĩnh vực chủ yếu.