hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Hằng năm, cứ đến ngày mồng 5 tháng 5 Âm lịch, nhân dân ta lại tổ chức ăn Tết Đoan ngọ. Tết Đoan ngọ tồn tại từ lâu trong văn hoá dân gian Việt Nam và có ảnh hưởng đến sinh hoạt văn hoá của người dân một số nước châu Á. Hôm nay, nhân ngày Tết Đoan ngọ (nhằm ngày mồng 5 tháng 5 năm Ất Tỵ), xin giới thiệu với bạn đọc phong tục tập quán có từ lâu đời
.jpg)
Tết Đoan ngọ ở Việt Nam còn gọi là Tết Diệt sâu bọ vì người ta tin rằng khi ăn những món ăn, thức uống trong ngày này thì sâu bọ, giun sán trong người sẽ bị chết hết
Tết Đoan ngọ còn được gọi là Tết Đoan dương. Đoan ngọ là bắt đầu giữa trưa (Đoan: mở đầu, Ngọ: giữa trưa). Còn Dương là mặt trời, là khí dương, Đoan Dương có nghĩa là bắt đầu lúc khí dương đang thịnh.
Tết Đoan ngọ ở Việt Nam còn gọi là Tết Diệt sâu bọ vì người ta tin rằng khi ăn những món ăn, thức uống trong ngày này thì sâu bọ, giun sán trong người sẽ bị chết hết.
Tết Đoan ngọ đối với người Việt
Tết Đoan ngọ hoặc Tết Đoan dương (ngày mùng 5 tháng Năm Âm lịch) là một ngày Tết truyền thống tại Việt Nam ta và một số nước châu Á như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Triều Tiên, Nhật Bản. Từ đó cho thấy, Tết Đoan ngọ thực chất là một phong tục lễ tết Á Đông và gắn liền với quan niệm về sự tuần hoàn của thời tiết trong năm, tồn tại từ lâu trong văn hóa dân gian và có ảnh hưởng đời sống văn hóa phương Đông.
Vậy Tết Đoan ngọ của người Việt có liên quan gì đến Tết Đoan ngọ của người Trung Quốc và gắn với truyền thuyết Khuất Nguyên như lâu nay từng quan niệm?
Tết Đoan ngọ còn được người Việt gọi bằng cái tên khác là “Tết Nửa năm” (cũng có nơi là gọi là Giữa năm), Tết Giết sâu bọ. Đây được xem là tên gọi của riêng người Việt, không lẫn với tên gọi của các quốc gia khác.
Về tên gọi Tết Nửa năm, tác giả Nguyễn Ngọc Thơ trong “Lại bàn về nguồn gốc Tết Đoan ngọ” giải thích: “Thời cổ đại, người Việt Nam dùng lịch kiến Tý, do vậy tháng mở đầu trong năm là tháng 11 âm lịch. Theo cách tính này, ngày 5 tháng năm rơi vào thời điểm nửa năm, do vậy dân gian Việt Nam rất chuộng tên gọi Tết Nửa năm”.
Về nguồn gốc của Tết Đoan ngọ, nhà nghiên cứu văn hóa Trần Ngọc Thêm nêu trong sách Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam: “Tết Đoan ngọ là Tết của người Bách Việt phương Nam (phía Nam sông Dương Tử đổ xuống), xứ nóng, kỷ niệm thời điểm nóng nhất giữa năm”.
Tác giả Trần Ngọc Thêm luận giải: Giữa năm là vì, theo lịch nguyên thủy, năm tính từ tháng Tý: đầu năm là Tý, giữa năm là Ngọ. Tháng Tý là tháng lạnh nhất, tháng Ngọ hiển nhiên là nóng nhất. Đoan là “nhất”, tết “Đoan ngọ” là ngày nóng nhất, giữa năm. Không phải ngẫu nhiên mà ngày 5/5 ÂL năm nào cũng gần trùng với ngày Hạ chí. Nóng là dương, cho nên tết này còn gọi là Tết Đoan dương.
Theo quan niệm Đông phương thì phương Nam là chính Ngọ, mà Ngọ là ngôi dương, cho nên tết này gọi là Tết Đoan dương. Và tháng Năm cũng là tháng Ngọ trong một năm. Tết này gọi là Tết Đoan ngọ vì tháng Năm là lúc bắt đầu trời nắng to, khí dương đang thịnh như mặt trời vào lúc giữa trưa.
Sách “Lễ tết Trung Hoa” (Chinese Festivals, N.Y., 1952 của W. Eberhard (Chinese Festivals, N.Y. 1952) viết: “Đoan ngọ là Tết của phương Nam, Tết cầu may, Tết của sự sống”.
Tác giả Nghê Nông Thủy, thuộc Hội Dân tộc học Trung Quốc cũng thừa nhận: “Tết Đoan ngọ là cống hiến to lớn của người Bách Việt đối với văn hóa Trung Hoa” (Hội Dân tộc học Trung Quốc, 2011).
Như vậy, có thể thấy, Tết Đoan ngọ xưa là do nhân dân ta cùng nhau sáng tạo, cùng hưởng thành quả làm ra. Nó là thành quả từ tính toán thời tiết để trồng trọt của văn hóa nông nghiệp phương Nam của các bộ tộc Bách Việt. Về sau, cùng với việc xâm lấn và mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam sông Dương Tử, Tết Đoan ngọ được người Hán tiếp nhận và hưởng ứng. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương khác nhau lại gắn vào nhiều điển tích khác nhau với các nhân vật như Ngũ Tử Tư, Việt vương Câu Tiễn, Khuất Nguyên đến Tào Nga, Trần Lâm…
Vì vậy, “So với người Trung Quốc, người Việt Nam thiên hẳn về lối sống dân gian, tư duy tổng hợp - trừu tượng và truyền thống văn hóa truyền miệng đã giúp gìn giữ phong tục ngày tết này mà không cần thiết gắn liền với các nhân vật lịch sử. Ngược lại, Trung Quốc dân số đông, dân tộc đa dạng, việc chính thức hóa một phong tục dân gian bằng thao tác gắn chúng với các nhân vật lịch sử có chức năng tích cực, nhất là trong chức năng đại đoàn kết dân tộc” (trích An Nam phong tục sách, Mai Viên Đoàn Triển).
Bởi vậy, không thể quan niệm Tết Đoan ngọ của người Việt bắt nguồn từ Trung Quốc như một số người vẫn lầm tưởng. Tết Đoan ngọ của nước ta có bản sắc văn hóa riêng của người Việt, có sự tích riêng và quan trọng được xây dựng trên lịch âm dương có nguồn gốc từ phương Nam.
.jpg)
Món ăn không thể thiếu trong ngày Tết Đoan ngọ là thịt vịt. Theo quan niệm của người xưa thì ngày 5/5 Âm lịch là ngày khí trời nóng nực, nhiệt độ cao nên người ta dùng thịt vịt có tính mát, bổ, để quân bình nhiệt - hàn giữa Trời và Người
Tập quán của người dân Việt Nam ở cả 2 miền Nam, Bắc thì đến Tết Đoan ngọ phải làm một số bánh, trong đó có bánh Tro hay còn gọi bánh Ú tro (bánh Gio). Món ăn không thể thiếu trong ngày Tết Đoan ngọ là thịt vịt. Theo quan niệm của người xưa thì ngày 5/5 Âm lịch là ngày khí trời nóng nực, nhiệt độ cao nên người ta dùng thịt vịt có tính mát, bổ, để quân bình nhiệt - hàn giữa Trời và Người.
Mỗi mùa có một loại trái cây đặc trưng, và vào tháng 5 này thì chúng ta sẽ có một số loại hoa quả như dưa hấu đỏ, mận, vải, đào,.. Những loại này có vị tươi ngon và có vị chua chua, thơm nức sẽ rất phù hợp cho Tết Đoan ngọ.
Tết Đoan ngọ, người dân thường nấu xôi, chè cúng lễ. Chè hạt sen nấu cùng bột sắn dây và chè đậu đen có tác dụng giải nhiệt. Tiết trời đầu tháng Năm nắng nóng, dễ sinh các bệnh nhiệt trong người, chè hạt sen, chè đậu đen được nhiều gia đình lựa chọn làm món tráng miệng. Ở ngoài Bắc, chè trôi nước hay bánh trôi nước được ăn vào dịp Tết Hàn thực (3/3 Âm lịch), nhưng ở phía Nam, chè trôi nước lại là món ăn của ngày Tết Đoan ngọ (5/5 Âm lịch). Ở miền Trung, chè kê là món ăn phổ biến của người dân trong ngày Tết Đoan ngọ.
.jpg)
Bản dập mộc bản sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ”, quyển 67 viết về Tết Đoan ngọ (Đoan dương)
Tết Đoan ngọ (Đoan dương) qua mộc bản triều Nguyễn
Tùy theo tính chất công việc, thời gian nghỉ Tết Đoan dương đối với các nha, sở sẽ được quy định khác nhau. Mộc bản sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ”, quyển 67, cho biết vào thời vua Minh Mệnh thì trước tết Đoan dương một ngày, sắc cho những công tác thổ mộc ở Kinh nghỉ việc 2 ngày (mùng 4 và mồng 5); những công sở Nội tạo, Nội vụ, Vũ khố nghỉ việc 1 ngày (mùng 5). Còn dưới thời vua Tự Đức thì các sở thợ ở Kinh chỉ được nghỉ duy nhất một ngày là mùng 5.
Các nghi lễ thực hiện ở trong Kinh, ngoài thành, dinh, trấn cũng được quy định cụ thể với các mức kinh phí khác nhau. Vào năm Gia Long thứ 3 (1804), quy định lệ tế ở các miếu và các từ đường. Ở Thái miếu, các lễ Nguyên đán, Đoan dương, hưởng tế, kỵ lạp, sóc vọng... mỗi năm chi tiền 4.600 quan; miếu Triệu tổ mỗi năm chi hơn 370 quan.
Đến năm 1805, vua Gia Long ban hành quy định về việc tổ chức các ngày lễ trong năm ở các thành, dinh, trấn như sau: Ở Miếu cũ Gia Định, 2 lễ Nguyên đán và Đoan dương mỗi năm chi tiền hơn 48 quan. Ở Gia Định và Bắc Thành, lễ duyệt binh đầu năm đều được chi tiền 100 quan; ở Hành cung 3 lễ là Nguyên đán, Vạn thọ, Đoan dương, mỗi lễ mỗi thành đều chi tiền hơn 125 quan, các dinh, trấn thì đều chi tiền hơn 26 quan; duy 6 ngoại trấn ở Bắc Thành thì đều chi tiền 20 quan; lễ Tạ trường thì đều chi tiền hơn 12 quan.
Về lệ treo cờ, năm Minh Mạng thứ 4 (1823) có quy định: đài Điện Hải, pháo đài Định Hải thuộc Quảng Nam là nơi bể biển, cần phải nghiêm túc thực hiện. Cho đem 3 lá cờ vàng cấp phát cho viên ở Điện Hải và Định Hải. Đến các tiết Thánh thọ, Vạn thọ, Nguyên đán, Đoan dương… đều theo lệ treo cờ.
Về định lệ treo cờ ở các Kỳ đài, năm Minh Mệnh thứ 7 (1826), hằng năm ở kinh, gặp bốn tiết lớn là Thánh thọ, Vạn thọ, Nguyên đán, Đoan dương, cùng ngày mồng Một, ngày Rằm lúc đại giá ra vào, treo cờ lớn bằng trừu lông sắc vàng; ngày thường thì treo cờ nhỏ bằng vải vàng. Nếu gặp ngày mưa gió to cùng ngày kỵ thì miễn treo. Các thành dinh trấn đạo phủ huyện, các đài Trấn Hải, Điện Hải, Định Hải, gặp bốn tiết lớn cùng khi xa giá đi tuần đến, treo cờ lớn bằng trừu nam sắc vàng.
Các nghi thức của Tết Đoan dương trong hoàng cung được thực hiện nghiêm trang và chỉnh chu, các vua ngự mũ cửu long, áo hoàng bào, đai ngọc cúng ở Thái Miếu hoặc Thế Miếu, rồi sau đó thay thường phục đến chầu cung Từ Thọ làm lễ để tỏ lòng thành của một người con. Ngay trong ngày chính tiết, ở đại điện Thái Hòa, hoàng thân và trăm quan đứng ở sân điện dâng biểu chúc mừng; các quan địa phương ở ngoài đều theo ban đứng chầu ở hành cung. Tuy nhiên, vào ngày Tết Đoan dương năm 1841, vì quốc tang nên vua Thiệu Trị cho bãi miễn việc dâng biểu mừng, bắn súng và đứng chầu theo ban.
.jpg)
Các quan dự tiệc tại điện Cần Chính (ảnh Tư liệu)
Tết Đoan dương năm 1846, vua Thiệu Trị cùng các quan đến chầu ở cung Từ Thọ. Khi làm lễ xong, vua ngự điện Thái Hòa, nhận lễ mừng, ban cho hoàng tử, hoàng tôn, hoàng thân, văn từ chánh ngũ phẩm, võ từ chánh tứ phẩm trở lên, ăn yến ở điện Cần Chính và hành lang 2 bên tả hữu. Con các thân phiên công đã phong đình hầu cùng là văn tòng ngũ phẩm, võ tòng tứ phẩm, cùng các viên được điểm vào chầu và các viên giải nộp vật hạng; hoặc diễn tập ở Kinh đều được dự. Sứ thần nước ngoài, thổ ty các hạt cũng cho ăn yến ở viện Đãi lậu bên tả. Gia thưởng cho sứ thần 2 nước Thủy xá, Hỏa xá là Sơn Thí, Kiệu Mộc, và thổ ty Trấn Tây là bọn Mộc Tức: các thứ chè, hoa quả, quạt, khăn tay.
Qua tài liệu Mộc bản, chúng ta thấy sự quan tâm đặc biệt của các vua triều Nguyễn dành cho ngày tết Đoan ngọ (Đoan dương). Thông qua đó, có thể hiểu được ý nghĩa của ngày tết này trong tâm thức của người Việt Nam.